VÀI KHÍA CẠNH VÀ CẢM NGHĨ VỀ NỀN LINH ĐẠO THỰC TIỄN
Cập nhật: 24/09/2015 22:26

 

            Thánh Vinh Sơn luôn là một con người thực tế. Ngài không bao giờ tỏ ra mặn mà đối với bất kỳ một ý tưởng cao siêu, thậm chí là một suy niệm bay bổng nào, mà không có gắn kết gì với hoàn cảnh thực tế. Ngài cũng không bao giờ chấp nhận bất cứ một đề xuất hay ho nào mà không thể đưa đến một hiệu quả thiết thực để yêu mến Chúa và phục vụ người nghèo. Ngài cũng chẳng bao giờ quá lý tưởng hóa bản thân, để rồi lơ là trong việc chu toàn các bổn phận, cũng như vun trồng đời sống nhân đức. Đó là những lý do giải thích vì sao sự thánh thiện cũng như những công trình ngài thực hiện luôn luôn sống động trong Giáo Hội suốt những thế kỷ vừa qua. Và đặc biệt, trong thời đại ngày hôm nay, rất nhiều người vẫn đang được đánh động bởi gương sáng và tầm nhìn của ngài, để sẵn sàng tiếp bước và mở rộng những điều thiện ích ngài đã thực hiện.

Tìm hiểu và suy nghĩ về một vài khía cạnh trong nền linh đạo thực tiễn của Thánh Vinh Sơn là một cách để chúng ta “ôn cố tri tân,” để chúng ta nhớ lại và phát huy hơn nữa những gì chúng ta đã được đón nhận từ kho tàng linh đạo ngài đã dành cho Tu Hội. Trong giới hạn của bài viết này, chúng ta sẽ đề cập ba khía cạnh có lẽ thuộc hàng thiết yếu nhất trong di sản linh đạo của Thánh Vinh Sơn và cũng vô cùng cần thiết đối với chúng ta ngày hôm nay, đó là những giáo huấn của ngài về đời sống đức tin và học hành, về giảng thuyết, và về bổn phận vun trồng cũng như bảo vệ các nhân đức.

 

1/ Về Đời Sống Đức Tin Và Học Hành

Đối với Thánh Vinh Sơn, đức tin xuất phát từ chính Thiên Chúa là Đấng Chân thật và Giáo Hội đã được Thiên Chúa ủy thác để xác định những gì chúng ta phải tin. Vì thế, chúng ta cứ việc an tâm mà đón nhận các chân lý đức tin, và không có chuyện phải tranh luận về đức tin. Ở một mức độ nào đó, theo quan điểm của Thánh Vinh Sơn, lý luận không những không cần thiết mà thậm chí còn có thể gây nguy hiểm cho đời sống đức tin. Ngài từng ví von: “Càng nhìn vào mặt trời, chúng ta càng lòa mắt.” Càng lý luận về đức tin, chúng ta càng choáng váng và chao đảo mà thôi. Thử hỏi rằng, đã có ai trong loài người chúng ta nhờ lý luận mà trở nên uyên thông về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, về Bí tích Thánh Thể, hay về tín điều Đức Mẹ Hồn Xác lên trời? Hay ngược lại, đã có những người, vì say mê lý luận nhưng lại không nhận thấy giới hạn của lý trí con người, đã trở nên mất đức tin hoặc chuyển qua các giáo phái khác vì sự “vô lý” của các mầu nhiệm và tín điều ấy? Quan điểm và mối bận tâm của Thánh Vinh Sơn về sự bất cập của lý trí đối với đức tin chính là ở chỗ đó.

Mà nói đến lý trí và lý luận là nói đến kiến thức và nghiên cứu sách vở. Phải chăng Thánh Vinh Sơn là người coi thường kiến thức và khinh miệt sự học hỏi? Chắc chắn không phải là như vậy. Chính bản thân ngài là một người có bằng cấp (cử nhân thần học và chuyên viên giáo luật – những văn bằng rất có giá trị thời bấy giờ). Chính bản thân ngài được nhiều nhà thông thái và quyền quý đương thời tìm đến xin linh hướng và giúp lời khuyên, cũng chính bản thân ngài để lại nhiều bài giảng, thư từ, và câu nói sâu sắc, có sức rung động lòng người cho mãi đến ngày hôm nay, và cũng chính ngài từng nói: “Những anh em tài giỏi và khiêm nhường là kho báu của Tu Hội.”

Bởi vậy, ngài khuyến khích việc học hành và trau dồi tri thức, miễn là những việc ấy phải quân bình và song song với sự thăng tiến đời sống đức tin. Ngài có lần khích lệ các anh em lớp triết như sau: “Các con hãy dùng tri thức triết học thu lượm được để yêu mến và phục vụ Chúa là Đấng Nhân lành, và để nâng tâm hồn mình lên tới Ngài. Đồng thời với quá trình tiếp thu khoa học và các phân khoa triết học Aristốt, các con cũng hãy trau dồi tri thức về Chúa Giêsu và các châm ngôn Tin Mừng của Ngài, rồi đem ra thực hành, với một mục đích rõ ràng là những kiến thức các con thu lượm được không làm cho các con ra tự mãn, nhưng chỉ để làm cho các con biết phục vụ Chúa và Giáo Hội của Ngài một cách hiệu quả hơn mà thôi.”

Một cách cụ thể hơn nữa, ngài đề ra cách thức học hành cho các anh em trong Tu Hội, gồm ba điểm như sau:

·        Học một cách quân bình, nghĩa là chỉ nhắm đến những tri thức hợp với bậc sống và hoàn cảnh của chúng ta.

·        Học một cách khiêm tốn, nghĩa là không nhằm mục đích cho người ta khen, cũng không nhằm mục đích trội hơn người… Ôi! gặp được một người vừa thực sự giỏi giang vừa thực sự khiêm nhường khó biết chừng nào!

·        Và, phải đặc biệt lưu ý, nhất là đối với các sinh viên thần học, học hành làm sao để lòng mến đi song song và ngang bằng với tri thức.

Như vậy, đối với Thánh Vinh Sơn, đức tin là hồng ân tuyệt vời nhất, là điều quý giá nhất đối với chúng ta. Chắc chắn ngài đồng quan điểm với Thánh Phaolô: “Tôi coi tất cả mọi sự là thiết thòi, so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Giêsu Kitô, Chúa của tôi” (Pl 3, 8). Việc học hành cũng vô cùng cần thiết, miễn là trong mức độ tương hợp với tầm mức đức tin nơi chúng ta. Ngài không hề phi bác việc trau dồi kiến thức và tra cứu sách vở, như một số người lầm tưởng. Chúng ta hãy tra vấn mình xem, chúng ta đã chu toàn bổn phận học hành như Thánh Vinh Sơn mong muốn chưa, và chúng ta đã khuyến khích anh em học hành theo như cách Thánh Vinh Sơn đề ra hay chưa? Nếu không có sự học hành đúng mức, làm sao chúng ta có thể chu toàn một bổn phận khác cũng gắn kết mật thiết với ơn gọi của chúng ta và được chính Thánh Vinh Sơn quan tâm ngay từ thuở khai sinh của Tu Hội, đó là việc giảng thuyết?

 

2/ Về Giảng Thuyết

Dựa theo sách Tông đồ Công vụ, chúng ta, nhất là các anh em linh mục, vẫn thường nói đùa với nhau: ngày xưa Thánh Phêrô giảng một bài thì lập tức có 3.000 người xin theo đạo, nhưng ngày nay chúng ta giảng 3.000 bài mà chẳng lay động được một “mống” nào!

Đây cũng chính là nhận định đau xót của Thánh Vinh Sơn đối với các nhà giảng thuyết đương thời với ngài. Trong những dịp tĩnh tâm mùa Vọng và mùa Chay, ngài quan sát các nhà giảng thuyết ở Paris nơi ngài sinh sống, và nhận thấy nơi những bài giảng của họ không hề thiếu sự chau chuốt, và thậm chí là hùng biện. Thế nhưng, chỉ tiếc một điều là những bài giảng ấy hoàn toàn thiếu lòng sốt mến, khả dĩ đánh động vào cõi sâu thẳm nơi nội tâm người nghe. Bởi thế mà chẳng lạ gì, ngài không thấy một linh hồn nào đã được hoán cải! Những lời giảng dậy họ thốt ra, ngài nhận xét, như bay vút trên mái nhà, tạo ra một tiếng gió rít, rồi tan chảy vào không gian bên ngoài. Chỉ là một tiếng xào xoẹt, và thế là hết!

Vì vậy, để tránh vết xe đổ này, ngay từ ngày thành lập Tu Hội, cùng với việc xác định mục đích phục vụ người nghèo miền quê, Thánh Vinh Sơn cũng đề ra cách thức giảng dậy cho các thành viên trong Tu Hội. Đối với những người nghèo miền quê vốn “quen thuộc với cái cầy hơn sách vở,” và “hoàn toàn xa lạ với các tư tưởng trừu tượng xa vời,” Thánh Vinh Sơn trước tiên yêu cầu các nhà truyền giáo phải có nhân đức đơn sơ và truyền đạt những bài giảng thật đơn sơ.

Một cách cụ thể, để có một bài giảng đơn sơ, Thánh Vinh Sơn nêu bật ba khía cạnh: nội dung, hình thức, và chất giọng. Trước hết, về nội dung, nhà giảng thuyết phải “đặt mình vào khả năng và tầm hiểu biết của người nghe,” để tránh những chủ đề cao siêu bay bổng và không ăn nhập gì với đời sống thực tế của họ. Thêm vào đó, nhà giảng thuyết phải ý thức mình giảng vì phần rỗi người nghe, chứ không phải để phô trương những “ý tưởng hay ho” của mình. Và, để người dân quê dễ dàng hiểu và áp dụng bài giảng, nhà giảng thuyết phải tận dụng những hình ảnh quen thuộc trong cuộc sống của họ để so sánh và diễn giải các chân lý Tin Mừng. Kế đến, về hình thức, nhà truyền giáo phải xa tránh “mọi kiểu cách mầu mè,” “ngôn ngữ khoa trương,” và “diễn xuất lòe loẹt,” vì chúng chẳng đánh động chiều sau tâm hồn người nghe, mà chỉ gia tăng “cái tôi” của người giảng mà thôi. Cuối cùng, về giọng điệu, Thánh Vinh Sơn khuyên nhà giảng thuyết tránh những cung giọng cao, vì chúng “vụt quá đầu người nghe.”

Đọc lại những bài giảng hay thư từ Thánh Vinh Sơn để lại, chúng ta thấy toát lên sự đơn sơ dễ hiểu, đúng như những gì ngài dậy chúng ta. Ở đây, chúng ta chỉ cần trích lại một trong những bài giảng rất đơn sơ của ngài dành cho các Bà Bác ái vào năm 1647. Bài giảng này đánh động các bà đến nỗi, mặc dù trước đó các bà đã tuyên bố dứt khoát rút khỏi việc trợ giúp các trẻ mồ côi vì các bà đã thật sự cạn kiệt nguồn lực, các bà đã lại đồng thanh vui vẻ tiếp tục công việc này. Khởi đầu bài giảng, Thánh Vinh Sơn đặt cho các bà một câu hỏi: “Hội các Bà Bác ái nên tiếp tục hay từ bỏ tài trợ cho các trẻ mồ côi đây?” Kế đó, ngài đưa ra các lý do thuận cũng như nghịch cho cả hai lựa chọn, rồi sau đó nhắc họ về những gì tốt đẹp đã được thực hiện: “Năm hoặc sáu trăm em nhỏ đã được cứu khỏi tay tử thần và được dưỡng dục thành con cái Chúa; những em lớn hơn đã hoặc sẽ được học hành. Nếu khởi đầu đã là tốt đẹp như thế, thì tương lai các em còn hứa hẹn hơn biết là chừng nào!” Rồi, nâng giọng cảm xúc lên một chút, ngài kết luận: “Bởi vậy, thưa quý bà, lòng thương càm và bác ái đã thúc bách các bà nhận các sinh linh tội nghiệp này làm con cái các bà, và thực sự các bà đã là mẹ của chúng theo ân sủng, ngay từ khi các bà mẹ ruột của chúng bỏ rơi chúng. Vậy bây giờ, các bà hãy suy xét xem, liệu có là điều phải lẽ khi các bà tiếp tục bỏ rơi chúng một lần nữa? Các bà hãy thôi là mẹ của chúng đi, để rồi các bà trở thành quan tòa của chúng. Sự sống sự chết của chúng đang ở trong tay của các bà đây. Ngay bây giờ, tôi sẽ lấy phiếu ý kiến của các bà. Đây là giờ tuyên án của các bà, để xem các bà có muốn tiếp tục lòng thương xót đối với chúng hay không. Chúng sẽ sống nếu các bà tiếp tục chăm lo cho chúng, và ngược lại, chúng sẽ chết nếu các bà bỏ mặc chúng. Kinh nghiệm đã cho các bà thấy trước điều đó.” Các bà đã bỏ phiếu và một trăm phần trăm các bà đồng ý tiếp tục trợ giúp các em!

Đó chính là sự đơn sơ của bài giảng và kèm với nó là sự thành công biết chừng nào. Một điều Thánh Vinh Sơn đồng thời hết sức lưu ý về sự đơn sơ, đó là: Đơn sơ không có nghĩa là bất cẩn, hời hợt và thô thiển. Nhà truyền giáo phải tuyệt đối tránh những ngôn từ thiếu lành mạnh và thô tục, cũng như hết sức tránh sự cọc cằn trong các bài giảng. Ngài nói: “Sự cay đắng chẳng giúp vào việc gì khác, ngoại trừ gia tăng lòng cay đắng.” Chúng ta hãy tự hỏi, nếu Thánh Vinh Sơn sống ở thời đại chúng ta, ngài có thất vọng không về những gì đi ngược lại chính những điều ngài đã chỉ dậy trong các bài giảng của chúng ta: nhiều khi hời hợt, đôi khi thô thiển, và cũng không ít khi đầy chất chua cay?

3/ Về Bổn Phận Vun Trồng Và Bảo Vệ Nhân Đức

Đối với Thánh Vinh Sơn, nhân đức không bao giờ tự nhiên mà có, không bao giờ là sung từ trên trời rơi xuống để chúng ta có thể há miệng mà chờ. Để thủ đắc các nhân đức, ngoài ơn Chúa, chúng ta phải cố gắng vun trồng, miệt mài củng cố, và hết sức gìn giữ bản thân.Chúng ta sẽ xem ngài giáo huấn như thế nào về cách vun trồng nhân đức, và sau đó là bảo vệ nhân đức, cụ thể là đức khiết tịnh.

 

a/ Cách vun trồng nhân đức

Tất cả các trở ngại và thiếu thốn, đối với Thánh Vinh Sơn, chính là những cơ hội tuyệt vời để chúng ta vun trồng đời sống nhân đức.Chẳng hạn, mỗi khi nghe biết trong Cộng đoàn không còn tiền, ngài luôn tỏ ra vui vẻ, trái ngược hẳn với nỗi lo lắng của vị quản lý. “Thật là một tin tốt lành,” ngài thường nói với anh em, “đây chính là cơ hội để chúng ta chứng tỏ niềm tin và trông cậy vào Chúa chúng ta.” Lần khác, vị Bề trên một Cộng đoàn đến thưa với ngài về sự thiếu hụt liên miên của Cộng đoàn, ngài nói: “Những lúc ấy cha có hay nghĩ đến Chúa không?” Vị Bề trên đáp: “Dạ có.” Và Thánh Vinh Sơn tiếp lời: “Cha thấy không, đó là giá trị tuyệt vời của sự nghèo khó; nó nâng tâm hồn chúng ta lên tới Chúa. Nếu chúng ta luôn luôn được đầy đủ, chắc chắn chúng ta sẽ chẳng bao giờ nghĩ đến Ngài.” Nhà mẹ Saint Lazare lần kia rơi vào tình trạng khủng hoảng tài chính nghiêm trọng, vì tòa án đã tước đoạt một cách bất công quyền sở hữu của Tu Hội đối với một nông trại tại Orsigny. Một người bạn của Thánh Vinh Sơn viết thư an ủi ngài và được ngài trả lời như sau: “Vâng phục thánh ý Thiên Chúa trong nghịch cảnh thì có giá trị gấp nhiều lần tất cả những lợi lộc vật chất.”

Tương tự như vậy, Thánh Vinh Sơn thẳng thắn nhận xét, hãm mình là nhân đức chị em với nhân đức khiêm nhường, và ai không biết hãm mình thì cũng không bao giờ là người khiêm nhường. Chúng ta hãy tự suy xét xem, nếu không có hãm mình, làm sao chúng ta có thể làm chủ các đam mê của giác quan? Và nếu không làm chủ được các đam mê của giác quan, làm sao chúng ta có thể làm chủ được “cái tôi” to tướng của mình, và làm sao chúng ta có thể vui vẻ đón nhận những sự xúc phạm, dù là rất nhỏ nhặt, của người khác đối với chúng ta?

Như vậy, sự từ bỏ và hãm mình, cũng như những nghịch cảnh trong đời sống là những cơ hội để chúng ta vun đắp tòa nhà nhân đức và sự thánh thiện. Theo Thánh Vinh Sơn, những ai biết thực sự hy sinh và đón nhận nghịch cảnh thì, cùng với ơn Chúa, sẽ không gặp khó khăn gì trong việc thủ đắc các nhân đức và thăng tiến trong đời sống thiêng liêng.

 

b/ Cách bảo vệ nhân đức

Vun trồng nhân đức đã khó, bảo vệ nhân đức còn khó hơn.Ở đây, chúng ta chỉ tìm hiểu bằng cách nào Thánh Vinh Sơn bảo vệ nhân đức thiết yếu nhất đối với đời tu – nhân đức khiết tịnh.

Khi không có lý do thật sự cần thiết, Thánh Vinh Sơn không bao giờ thăm viếng phụ nữ, cho dù đó là một Nữ tử Bác ái. Và khi có lý do thật cần thiết để thăm viếng họ, ngài cũng luôn luôn mời một thầy đi kèm. Trong các cuộc tiếp khách tại nhà Saint Lazare cũng vậy, phụ nữ không bao giờ được phép lên các tầng trên. Bất cứ phụ nữ nào đến thăm ngài đều được mời vào một căn phòng ở sát cửa ra vào chính của ngôi nhà. Khi tiếp phụ nữ ở căn phòng này, ngài cũng luôn mời một thầy đi theo với mình. Một lần kia, khi ngài trò chuyện với một phụ nữ trẻ trung và duyên dáng, thầy đồng hành với ngài, vì một lý do cá nhân nào đó âm thầm đi ra ngoài, ngài liền gọi thầy đó lại và nhắc thầy để cánh cửa mở rộng thêm ra.

Trong các buổi trò chuyện cũng như trong các thư từ của ngài, Thánh Vinh Sơn không bao giờ dùng những từ ngữ giầu cảm xúc và hình tượng quá mức cần thiết. Ngài thường dùng từ “trong sạch” với ý nghĩa mơ hồ và tổng quát, hơn là dùng từ “khiết tịnh,” vốn dễ gây cho ngài ý nghĩ về điều ngược lại. Ngài cũng thường nhắc nhở anh em phải cẩn thận và tránh thái quá khi giải thích điều răn thứ sáu. Ngài có lần viết cho một vị Bề trên: “Tôi xin cha hãy nhắc nhở anh em hơn nữa về sự cẩn trọng khi giải thích cũng như khi trả lời các câu hỏi liên quan đến điều răn này.”

Ông bà chúng ta đã từng xếp ái tình nam nữ vào hàng thứ ba trong “tứ khoái” của con người. Giáo Hội cũng nhiều lần minh định: “Siêu nhiên không phá hủy tự nhiên.” Chắc chắn không ai trong chúng ta có thể nói rằng mình đủ bản lĩnh, hoặc đã tu “đắc đạo” đến mức có thể xem thường hay lơ là giữ gìn nhân đức khiết tịnh. Thánh Vinh Sơn đã phải vất vả và kỹ càng như thế, liệu chúng ta có thể tự tin và dễ dãi hơn?

Thay lời kết

Thánh Vinh Sơn luôn thực tế và lời dậy của ngài luôn cụ thể, khúc chiết và rõ ràng. Nơi ngài và nơi nền linh đạo thực tiễn của ngài, chúng ta không những luôn rút ra được những bài học bổ ích cho đời sống nhân bản và tâm linh, mà còn tìm được một điểm tựa vững chắc và mẫu gương sáng chói cho sự thăng tiến của bản thân chúng ta. Những gì được chia sẻ ở trên chỉ là một phần rất nhỏ trong kho tàng linh đạo phong phú của Thánh Vinh Sơn. Ước gì dịp kỷ niệm 60 năm hiện diện  của Phụ tỉnh Việt Nam tại Việt Nam sẽ là khởi đầu cho một quá trình đào sâu hơn nữa của mỗi người chúng ta vào di sản chung chúng ta thừa hưởng nơi Thánh Tổ Phụ, để chúng ta sẽ ngày càng trở nên hoàn thiện hơn trong cuộc đời “theo chân Đức Kitô, Đấng rao giảng Tin Mừng cho người nghèo.”

Lm. Phaolô Phạm Quang Hoàng, CM

BÀI VIẾT CÙNG CHỦ ĐỀ
TIN / BÀI MỚI