Tu hội Nữ Tử Bác Ái Thánh Vinh Sơn
Cập nhật: 24/09/2015 20:02

Ơn gọi và sứ mệnh của Tu Hội Nữ tử Bác ái Thánh Vinh Sơn là : Tận hiến cho Thiên Chúa, sống thành cộng đoàn để phục vụ Chúa Kitô nơi người nghèo về thể xác và tinh thần qua các hoạt động nhân ái, phát triển bền vững và sự hiện diện chứng tá tình Yêu Chúa Kitô.

                                                                   1. Nguồn gốc Tu Hội : 

          Vào thế kỷ XVII, ở Pháp, nhiều người nghèo không được chăm sóc, như : tù nhân khổ sai, bệnh nhân, hành khất, dân nghèo ở khắp nơi, trẻ em bị bỏ rơi..v..v. Dưới tác động của Chúa Thánh Thần, cha Vinh Sơn đã khám phá ra nỗi khốn khổ về vật chất và tinh thần của thời đại, và đã tận hiến cuộc đời để phục vụ và rao giảng Tin Mừng cho người nghèo, những người mà ngài gọi là “Chúa và Thầy”. Để thực hiện điều đó, ngài đã :

(1) Thành lập các Hội Bác Ai (1617) để các giáo dân góp sức trong sứ mệnh phục vụ người nghèo.

(2) Năm 1625, thành lập Tu Hội Truyền Giáo để đào tạo các linh mục. Trong khoảng thời gian này, ngài gặp bà Louise de Marillac, một phụ nữ đạo đức, goá chồng, và mời bà tham gia hoạt động từ thiện của ngài. Các bà trong Hội Bác Ai, phần đông là những mệnh phụ phu nhân có nhiều phương tiện vật chất nhưng không có giờ để chu toàn những công việc giúp đỡ thăm viếng, chăm sóc bệnh nhân, tù nhân, nuôi trẻ mồ côi ..v..v. Đồng thời, có nhiều thiếu nữ thôn quê tình nguyện làm những công việc thấp hèn nên cha Vinh Sơn giao họ cho Bà Louise de Marillac đào tạo.

(3) Ngày 29/ 11/ 1633, Ngài đồng sáng lập Tu Hội Nữ Tử Bác Ai (NTBA)

(4) Ngày 08/ 06/ 1668, Tu Hội được Đức Giáo Hoàng Clêmentê IX chính thức phê chuẩn.

2. Tiểu sử các Đấng Sáng Lập :

 

 

THÁNH VINH SƠN PHAOLÔ : 

Sinh ngày 24/ 04/ 1581 tại làng Pouy, miền Landes, nước Pháp. Sau khi học xong trường làng, cậu được gởi lên tỉnh, làm nghề gia sư để kiếm tiền học tiếp. 

Năm 19 tuổi Vinh Sơn được thụ phong linh mục. Sau đó cha tiếp tục học đại học và đã đậu cử nhân giáo luật. Cha tìm kiếm một công việc khả dĩ đem lại nguồn lợi vật chất khá để giúp đỡ gia đình. Sau đó, cha đã có nhiều kinh nghiệm về thành công cũng như thất bại trong đời sống linh mục để đạt tới sự hiểu biết về ý Chúa và sứ mạng của cha trong Giáo Hội.

Tuy nhiên, cha đã bị khủng hoảng đức tin. Thiên Chúa dùng biến cố này để thanh luyện cha, cho cha thấy được rằng ơn gọi của cha là TRUYỀN GIÁO và PHỤC VỤ NGƯỜI NGHÈO chứ không phải là thăng tiến bản thân và làm giàu cho gia đình.

Ngày 27/ 09/ 1660, cha được Chúa gọi về trong tư thế ngồi cầu nguyện như cha hằng mong ước.

Cha được phong chân phước năm 1729 và được tôn phong hiển thánh năm 1737.

Ngày 02/ 05/ 1885, Đức Giáo Hoàng Leo XIII chọn ngài làm bổn mạng các tổ chức từ thiện.
  

 


Thánh nữ LOUISE DE MARILLAC : 

Sinh ngày 12/ 08/ 1591, là con của ông Louis de Marillac, thuộc dòng dõi quí tộc nước Pháp. Khi còn nhỏ, cô được gởi nội trú tại dòng Đa Minh ở Poissy. Năm 15 tuổi, cô ao ước trở thành nữ tu dòng Capucine, nhưng không được vì thiếu sức khỏe. Cha bề trên đã nói : « Thiên Chúa có ý định khác trên con».

Ngày 05/ 03/ 1613, cô thành hôn với ông Antoine Legras, thư ký của hoàng hậu Marie de Médicis. Bà sống hạnh phúc với chồng và có một con trai. Nhưng thời gian này chỉ kéo dài 9 năm, rồi chồng bị bệnh và cậu con trai chậm phát triển trí tuệ. Những sự việc này khiến bà lo lắng và tự hỏi có phải đó là hình phạt, vì bà đã không giữ lời hứa trở thành nữ tu Capucine.

Lễ Thăng Thiên năm 1623, bà bị dằn vặt bởi mối hoài nghi :

- Có nên bỏ chồng để thực hiện lời hứa xưa và để được tự do phục vụ Chúa và tha nhân chăng ?

Bà quay cuồng trong màn đen tối dày đặc suốt 10 ngày. Lễ Hiện Xuống 04/ 06/1623, mọi sự được biến đổi : trong khi tham dự thánh lễ, một luồng ánh sáng linh thiêng đã tràn ngập lòng bà, trả lại cho bà niềm vui và sự bình an của Thiên Chúa. Bà nhận được lời đáp trả rõ rệt cho thắc mắc trên :

- Phải ở lại với chồng. Bà được thoáng thấy có ngày bà được khấn giữ khó nghèo, khiết tịnh, vâng phục, sẽ được cùng với các chị em sống tận hiến cho Thiên Chúa để phục vụ tha nhân.

Ngày 21/ 12/ 1625, ông Legras qua đời.

Năm 1629, bà tham gia vào việc phục vụ người nghèo của cha Vinh Sơn, trong các Hội Bác Ai ở Pháp.

Từ năm 1630-1633, nhiều cô gái thôn quê đến xin cha Vinh Sơn đi phục vụ người nghèo. Cha đã giao các cô này cho bà Louise de Marillac đào tạo. Ngày 29/ 11/ 1633, bà đón tiếp và qui tụ các cô tại nhà bà để hướng dẫn họ.


Ngày lễ Truyền Tin 25/ 03/ 1634, bà tuyên khấn thuộc trọn về Chúa và người nghèo. Tu Hội ngày càng lớn mạnh ở Pháp, Ba Lan và các nước khác. Dù có những lúc Tu Hội gặp nhiều khó khăn nhưng bà tin tưởng vào Chúa Ba Ngôi và lòng sùng kính Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội đã giúp bà vững tay lèo lái Tu Hội.

Ngày 15/ 03/ 1660, bà được Chúa gọi về sống trong tình yêu vĩnh cửu của Người.

Ngày 09/ 05/ 1934, Đức Giáo Hoàng Piô XI phong thánh cho bà Louise de Marillac.

Tháng 02/ 1960, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII tuyên phong bà làm quan thầy của tất cả những ai dấn thân trong công tác xã hội theo tinh thần Kitô giáo.

3. Lịch sử Tu Hội : 

(1) Trên thế giới : Tu Hội NTBA thánh Vinh Sơn được thành lập ngày 29/ 11/ 1633 tại Pháp, do thánh Vinh Sơn Phaolô và Thánh nữ Louise de Marillac. Ngày 25/ 03/ 1642, bốn chị đầu tiên đọc các Lời Khấn để hoàn toàn dấn thân phục vụ người nghèo. Trước hết các chị phục vụ ở Pháp, năm 1655 được sai đi Ba Lan và sau đó đến các nước khác trên thế giới. Cho đến nay trải qua 375 năm, Tu Hội đã phát triển và có mặt trên 94 quốc gia (2008) với 22.736 NTBA (năm 2003). Lãnh vực hoạt động của các NTBA bao gồm : công tác xã hội, y tế, giáo dục, văn hóa, truyền giáo… Tiếng gọi mà các chị đầu tiên đã nghe theo vẫn luôn luôn là tiếng gọi khơi dậy và qui tụ các NTBA trên khắp thế giới sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thời đại.


(2) Tại Việt Nam : Theo lời mời của Đức Giám Mục Isidore DUMORTIER – Giám mục của giáo phận Saigon, ngày 11/ 12/ 1928, ba NTBA Pháp đầu tiên đặt chân lên đất Việt Nam.

- Các chị phục vụ tại bệnh viện Gia Định và được ban giám đốc bệnh viện cho một căn nhà trong khu vực bệnh viện (đây là ngôi nhà đầu tiên của Tỉnh dòng, sau đó trả lại cho bệnh viện). 

- Tháng 03/ 1929, một chị NTBA Trung Quốc đến ở với ba chị, làm thành cộng đoàn NTBA đầu tiên của Tỉnh Dòng Việt Nam. Hiện nay là cộng đoàn Mẹ Vô Nhiễm, số 10 Phan Đăng Lưu, P.7, Q. Bình Thạnh.


- Năm 1932, thành lập Tỉnh Dòng Việt Nam với Tuyển Viện - Chuẩn Viện - Tập Viện đặt Nhà Chính tại Thủ Đức (1932-1940), Đalat (1941-1975) và từ 1975 đến nay, tại 42 Tú Xương, Quận 3, TP. HCM. 


- Theo hướng canh tân của Giáo Hội sau Công Đồng Vatican II, Tỉnh Dòng Việt Nam đã gởi các chị em đến sống giữa người nghèo trong những miền xa xôi hẻo lánh. Do đó, từ năm 1965, ngoài các cộng đoàn ở các thành phố như Sài Gòn, Đà Lạt, Ban Mê Thuột, Nha Trang, Kontum đã có những thí điểm truyền giáo ở Đồng Tháp, Vĩnh Long, Lâm Đồng, Cần Thơ, Cà Mau… và sau năm 1975, nhiều cộng đoàn nhỏ được thành lập trong các giáo phận Long Xuyên, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Xuân Lộc, Phú Cường, Ban Mê Thuột, Kontum, Nha Trang, Đà Lạt, Vinh, Hà Nội…

4. Đặc điểm của Tu Hội : Phục vụ Chúa Kitô nơi người nghèo về thể xác và tinh thần với các nhân đức của Tin Mừng là khiêm nhường, đơn sơ và bác ái.


5. Linh đạo : Ơn gọi và sứ mệnh của Tu Hội là : Tận hiến cho Thiên Chúa, sống thành cộng đoàn để phục vụ Chúa Kitô nơi người nghèo về thể xác và tinh thần qua các hoạt động nhân ái, phát triển bền vững và sự hiện diện chứng tá tình Yêu Chúa Kitô.


6. Bổn mạng của Tu Hội : 
- Thánh Vinh Sơn Phaolô : ngày 27/ 09
- Thánh nữ Louise de Marillac : ngày 15/ 03

BÀI VIẾT CÙNG CHỦ ĐỀ
TIN / BÀI MỚI