Tiểu sử Chân Phước Mác-cô An-tôn Du-ran-đô - Phần 2
Cập nhật: 10/12/2013 00:09

 

4.  Con Đức Mẹ (1856)

Hiệp Hội này là do yêu cầu của Đức Trinh Nữ nói với thánh Catarina Labouré, trong những lần hiện ra của Đức Mẹ Ảnh Hay Làm Phép Lạ, ở Paris vào năm 1830. Đức Piô IX phê chuẩn Hiệp Hội vào năm 1846, và Hiệp Hội được đưa vào Nước Ý do cha Durando năm 1856, vì các thiếu nữ nội trú  và vì các thiếu nữ trong  xưởng thợ của Lòng Thương Xót ở Cascine hoặc Viện Alfieri-Carrù.

 

Mục đích của hiệp hội này không phải trực tiếp nhắm lòng bác ái đối với người nghèo, mà là việc huấn luyện về kitô giáo và về Đức Mẹ cho giới trẻ. Sau nhóm đầu tiên, nhiều nhóm khác được thành lập và cha Durando, trong tác vụ này, hưởng được sự cộng tác quí báu của các cha thừa sai. Người ta có thể nói rằng trong tất cả các trường dành cho giới trẻ, do các Nữ Tử Bác Ái điều khiển, Hội Con Đức Mẹ đều được thành lập. Các hội này có một ảnh hưởng sâu xa đến việc huấn luyện thiêng liêng cho giới trẻ. Các hiệp hội này là những hạt giống thật sự cho ơn gọi tu sĩ, cho các bà mẹ gia đình thánh thiện , cho các tông đồ trên thế giới.    

 

5.  Giám tỉnh của Tỉnh Dòng Haute-Italie

Năm 1837, cha Durando được bổ nhiệm làm Giám Tỉnh của Tỉnh Dòng Haute-Italie, lúc đó được gọi là "Tỉnh dòng Lombardie". Vào thời buổi đó, một sự bổ nhiệm như vậy, ở vào tuổi quá trẻ, thực sự là một trường hợp bất thường ; nó tiết lộ sự quí mến đã được tạo ra quanh con người ngài trong một thời gian ngắn ngài quản trị Nhà Turin.

 

Các nhà của các cha thừa sai (Vinh Sơn) là bẩy nhà và hoạt động với nhịp mạnh: các kỳ giảng Đại Phúc, các kỳ tĩnh tâm, huấn luyện các tập sinh và các sinh vin, ở Turin, ở Gênes, ở Casale Monferrato ; huấn luyện hàng giáo sĩ ở Học Viện Alberoni de Plaisance và ở học viện Tu Hội Truyền Giáo Sarzana, học viện  Savone.

 

Vào lúc cha Durando qua đời, các nhà của Tỉnh dòng ở con số gần gấp đôi. Các nhà được mở thêm là các nhà: Mondovi, Scarnafigi, Học viện Brignole-Sale de Gênes, nhà Hoà Bình Chieri, Casale Monferrato, Cagliari và Sassari.

 

Danh sách được mau mắn lập ra, nhưng cha Durando đáng thương phải trải qua cơn hấp hối của con đường thập giá rất đau buồn, bởi cơn lốc huỷ bỏ các cộng đoàn tu trì ngày 03 / 7 /1866 gây ra !

Gắn liền với việc huỷ bỏ này là việc tịch thu tất cả mọi tài sản: nhà cửa và của cải … đến độ Vị chân phước đã phải mua lại các căn nhà bị tịch thu, căn này rồi căn kia, dưới các hình thức sở hữu khác nhau.

Hơn nữa, phải ghi nhận: việc mua lại từng căn nhà, ngoài khoản chi phí đáng kể, là cả một sự lao tâm khổ trí lớn lao của cha Durando. Thật vậy, không thể để tên Cộng đoàn, mới bị bãi bỏ theo luật pháp, làm chủ sở hữu các căn nhà và tài sản, mà phải để tên các cá nhân, với mọi thứ nguy hiểm liên quan và những chi phí cho việc thừa kế.

 

6.  Trong cơn "những náo động" của Thời Phục Hưng ở Ý

Những nỗi thăng trầm của Thơi Phục hưng làm liên luỵ đến cha Marcantoni Durando, anh của tướng Giovanni, ( tướng không tuân lệnh, ông này đã chỉ huy Đạo Quân Giáo Hoàng trong trận chiến thứ nhất dành độc lập, một chiến binh vẻ vang ở Cernaia vùng Crimée, ở San Martino della Battaglia, ở Custoza ), và của tướng Giacomo, (nhà báo , người tán  thành một loạt những luật trấn áp trên các tài sản của Giáo Hội và việc tổ chức các cộng đoàn tu trì, Bộ trưởng Bộ ngoại Giao trong chính phủ Rattazzi từ tháng ba đến tháng 12 / 1862 ). Cha Durando đã không ngớt khuyên và trách móc các anh mình khi các anh đã có những lập trường cực đoan, thường là chống giáo sĩ:

Tận thâm tâm, em ao ước hoà bình giữa chính phủ và Giáo Hội-ngài viết cho ông anh Giacomo, ước gì tình thế biến động chấm dứt, cái tình thế chúng ta đang phải sống, và ước gì người ta ngưng đánh phá Giáo Hội, các dòng tu, các quy chế của Giáo Hội, và ước gì người ta để cho chúng tôi thở và sống.

 

Và khi, vào năm 1870, không còn sự nâng đỡ của nước Pháp, việc chiếm đóng Rôma bằng vũ lực đã xảy ra, cha Durando đã viết cho tướng Giacomo một bức thư dài, trong đó ngài bày tỏ những bối rối về sự việc đã rồi, về những ý hướng của các nhà chính trị và của các người cầm quyền. Ngài nghĩ rằng ông anh cũng có những tâm tình như mình, nhưng ông ta không có can đảm tỏ rõ lập trường:

Anh hãy suy nghĩ - ngài viết - và nếu lòng anh, như em nghĩ, không tán thành, hãy ngăn chặn, ít ra hãy lên tiếng thẳng thắn… Ở tuổi anh, bằng tất cả những gì anh đã làm, anh không được sợ những chuyện bép xép của  tờ báo nào đó, hoặc của kẻ cuồng nhiệt nào.

 

Và ngài kết luận :

Em yêu và ao ước sự vĩ đại cho nước Ý và em vẫn nói sự thống nhất trong các hình thái hợp pháp, em ao ước sự đó, và em thấy được tầm quan trọng của nền độc lập tuyệt đối, thật sự và cốt yếu cho sự huy hoàng của Vatican, cũng như cho sự vĩ đại và sự thống nhất của nước Ý.

 

Tiếng nói đã không được cất lên, hoặc không được cất cao đủ.

 

Chính phủ và Quốc Hội tiếp tục gây sức ép trên hàng giáo sĩ. Viện cớ rằng một số linh mục lấn chân vào lãnh vực chính trị, người ta muốn hạn chế tự do trong tác vụ của hàng giáo sĩ. Cha Durando có cảm tưởng là hàng giáo sĩ không có can đảm phản ứng: trái lại các giáo dân lại có can đảm, và ngay cả những người phe tự do cũng không có thành kiến chống các tu sĩ.

 

Ngài cũng không chịu đựng được sự thiếu tự do phát biểu, và còn hơn thế nữa vì điều thứ I của Hiến Pháp khẳng định Kitô giáo là một tôn giáo thống trị:

Ôi nước Mỹ của Châu Mỹ hạnh phúc, ngài viết, nơi mà tự do toả lan đến mọi người, nơi mà hàng giáo sĩ, các cộng đoàn tu, các người Tin lành, những kẻ ly khai và những người công giáo làm thành một nước thống nhất và bền vững. Thường thường giữa chúng ta, người ta chỉ nhìn thấy và nghe thấy những tư tưởng, những dự phóng, những qui chế và những điều nhỏ nhặt ti tiện, chúng không nâng cao đất nước, không làm cho đất nước lớn mạnh, không động viên lòng đạo đức, vì tâm tình tôn giáo thiếu vắng nơi tất cả.

 

Tuy nhiên, các anh ngài luôn gắn bó với ngài, và cũng tìm cách giúp đỡ ngài. Điều đó đặc biệt xảy ra khi Uỷ Ban điều hành Nước Ý Thống Nhất đánh giá có thể đưa luật của Nhà Nước Savoie áp dụng cho Toàn Nước Y, kể cả các qui chế trấn áp. Chúng cũng được áp dụng cho việc cư trú của các cha Thừa Sai thuộc các Tỉnh dòng Rôma và Naples. Cha Marcantonio, theo sự thúc giục của Toà Tổng Quyền, đã cho anh Giacomo biết những sự việc này. Song, kết quả không bao nhiêu.

 

7.  Đấng sáng lập các dì Nazarét nơi trừơng học của Đức Kitô chịu đóng đinh

Không phải là nói ngoa khi nói việc thành lập dòng các dì Nazarét là công trình chính yếu của chân phứơc, hay gọi cách thân thương hơn, đó là công trình tâm huyết của ngài.

 

Bối cảnh pháp lý của Hội Thánh thời ấy ngăn cấm những người sinh ra ngoài hôn nhân tôn giáo không được bước vào đời sống thánh hiến: sự sinh sản bất bình thường theo cổ điển.Cha Durando, khi tiếp cận với nhiều viện nuôi trẻ nữ cô nhi hay ngoại hôn,( vào thời đó, các trẻ nữ phải ở viện mồ côi cho tới 21 tuổi ), đã nhiều lần thấy có những trẻ tuyệt vời, nhờ được các dì phước dưỡng dục, cảm thấy ước vọng muốn được làm nữ tu. Dĩ nhin, chúng chạy đến với vị linh mục mà chúng quen biết hơn, và vị đó chính là chân phước của chúng ta. Trong nhiều dịp, ngài đã cố thử cách vô ích cho người ta chấp nhận các thiếu nữ này vào các hội dòng. Chân phước đã giải quyết hòan cảnh này cách can đảm và canh tân, được chứng minh khi ngài gửi các dì ra chiến trường.Vào dịp mặc áo dòng của các dì tiên khởi chính ngài đã nói về điều đó bằng những lời mà ngày nay, dù đã 136 năm qua, vẫn còn đánh động con tim và gây xúc động:

 

Ngày 27 tháng 9 năm 1866

Các con biết, từ vài năm nay, chính một số các con cậy nhờ vào sự bảo trợ yếu kém của cha làm chỗ dựa, để có thể  được nhận vào một cộng đoàn tu nào đó; phần cha, cha đã cố gắng hết sức để làm việc ấy khi cha giới thiệu, đề nghị, đưa ý kiến nơi bất cứ cộng đoàn nào  cha tiếp xúc, ở Tu-ri-nô hay ở nơi khác, để họ quan tâm đến lợi ích thiêng liêng của các con, nhưng tất cả mọi toan tính của cha đều vô ích. Khi bị thất bại, cha bắt đầu suy nghĩ về các tình tiết của một sự việc như thế, đến nỗi cha không đuổi được sự suy nghĩ ấy khỏi đầu óc cha; cha đã nhận ra rằng khi suy nghĩ nhiều như vậy, hầu như cha không nhận thấy sự việc đã in sâu vào tim óc, đến độ cha đã tin mình tự giải quyết  được, đang khi hiến thân cho Chúa, đối với công việc phục vụ Ngài.

 

Cha thường suy nghĩ: các thiếu nữ đáng thương này, sao chúng không được giúp đỡ, cách nào đó, trong ý định muốn xa lánh trần thế để hiến thân cho việc phục vụ Chúa? Sao không được một nơi tĩnh tâm, một thể chế của cộng đoàn tu trì nào giữa bao nhiêu cộng đoàn ở Tu-ri-nô và ở nơi khác, có thể và muốn chấp nhận chúng? Và nếu nói đến việc thành lập cho các thiếu nữ này một Tu Đoàn riêng, trong đó chúng được đón nhận vào để sống đời sống kitô giáo đạo hạnh và nhân đức, vừa thánh hoá chính mình vừa xây dựng tha nhân, và ngay cả sao người ta không thể lập một cọng đoàn tu trì cho chúng? Mà các thiếu nữ đạo hạnh này nhận được sự linh ứng tốt lành này từ ai? Ai đã gợi cho chúng thiện chí hiến thân cho Chúa ?

 

Chắc chắn lòng nhân từ và ý của Chúa đã đánh động chúng…và nếu sự việc khởi sự từ Thiên Chúa, vậy chúng phải được giúp đỡ về ý định đạo đức này.

 

Các thiếu nữ này, chúng lại không được tiền định hưởng thiên đàng sao? Đúng hơn, nếu chúng sống đạo đức thì một phần thưởng tốt đẹp đang đợi chúng ở trên trời, có lẽ chúng sẽ không có nhiều, thì chúng cũng là “cái gì đó” trên đời này và chúng đã có thể bước vào các dòng tu cách dễ dàng! Chao ôi! Các thiếu nữ này đã có thể là và trở thành những tâm hồn tuyển lựa và nghĩa thiết với Thiên Chúa hơn những gì mà tôi đáng hưởng, tôi một con người khốn khổ, một người rốt hết trong các thừa tác viên thánh của Thiên Chúa. Sau những suy nghĩ này và bị thúc bách bởi nhiều lời van xin của các con, cha đã quyết định trông cậy vào Chúa quan phòng vừa theo buớc sự linh ứng tốt lành vừa thực hiện linh ứng. Ôi ! thánh ý thật tuyệt vời của lòng nhân từ thương xót Chúa đối với các con, hỡi  các con gái tốt lành của cha! Ôi ! Ơn gọi Tu sĩ thật là ân phúc lớn lao! Các con ơi, Cha xin các con hãy đón nhận nét yêu thương này của Chúa Quan Phòng với niềm biết ơn sâu xa vì, nhờ ơn Chúa, mọi khó khăn ngăn cản các con hiến mình cho việc phục vụ Thiên Chúa đã bị san lấp, bây giờ các con có thể hiến thân cho Chúa với lòng nhiệt tâm lớn lao, với lòng nhiệt thành kiên trì.

 

Chính như thế mà dòng các dì Nữ Tử Sự Thương Khó Chúa Giêsu Nazarét được sinh ra, sống và hoạt động, về sau, được gọi vắn tắt là Các dì Nazarét. Cộng đoàn mới này được thành lập không phải vì nhu cầu đặc biệt bên ngoài, và vì thế chân phước sáng lập đã không tức thời đưa ra cho Cộng Đoàn một đích nhắm hoạt động. Đúng theo dự định ban đầu, dự định mở cho các thiếu nữ này bước vào đời thánh hiến, chân phước động viên họ bằng những lời này: Các con hãy cầu nguyện, hãy vâng phục, và hãy trở nên những thánh nữ !

 

Theo phong cách của thánh Vinh Sơn, chân phước chờ đợi những dấu chỉ của Chúa Quan Phòng, các dấu chỉ nêu lên sự trợ giúp, ngày và đêm, cho các bệnh nhân tại gia. Ta nên biết hoàn cảnh mục vụ khác nhau của thời ấy: các người nghèo kết thúc đời họ ở bệnh viện, nơi họ tìm được sự giúp đỡ liên tục về tôn giáo, đang khi những người giầu được săn sóc tại gia và thường không gặp được linh mục hay một nữ tu. Công việc của các dì Nazarét lập tức tỏ ra rất hiệu quả cho phần rỗi linh hồn của những người các dì giúp đỡ. Nhiều cuộc hoán cải của những nhân vật nổi tiếng, họ kết thúc cuộc đời trong sự hoán cải hoàn hảo.

 

Ngoài việc tông đồ đối với bệnh nhân và các trẻ bị bỏ rơi, chân phước còn truyền lại cho Các Dì việc tôn thờ sự thương khó Đức Giêsu, đâỹ là di sản thiêng liêng của Chân Phước; thật vậy, chân phước đã phổ biến việc tôn thờ này cho các tín hữu, và  đã lập một Thánh Điện Sự Thương Khó trong nhà thờ của các thừa sai tại Tu-ri-nô.

 

Chân Phước đã để lại cho các Nữ Tử của mình một giáo thuyết phong phú về lòng sùng mộ và về tu đức, và chân phước đã làm cho họ dấn thân vào lòng sùng kính này bằng Lời khấn thứ tư.

              

8.  Việc  Dấn thân truyền giáo

…Tôi ước muốn đi Trung Quốc, song đó đã không phải là ý Thiên Chúa. Tâm hồn tôi bình an…Điều đó muốn nói lên: trong tâm hồn chân phước, ước muốn này, ước muốn đã hướng dẫn chân phước trong việc chọn lựa thời trẻ thuộc về một dòng tu cho ngài đi truyền giáo nước ngoài, chứ không thuộc hàng giáo sĩ giáo phận, vẫn tiếp tục còn đó và tiếp tục ấn định các lựa chọn của chân phước, khi cơ hội đến. Chân phước đã giúp và vận động các người thân giúp công cuộc truyền bá đức tin ; chân phước đã gửi cho công cuôc việc này 20.000 lia mà các anh và em mình ông Camillô, chính trị gia, và ông Gustavo Cavour, một người thánh thiện đầy lòng  kính sợ Thiên Chúa.

 

Trong việc điều khiển Tỉnh Dòng, chân phước đã ưu tiên tạo thuận lợi cho các công việc truyền giáo nước ngoài, ngài chấp nhận mọi yêu cầu của các thành viên ước mong được đi truyền giáo nước ngoài, và động viên họ mạnh dạn xin đi truyền giáo nước ngoài.  Chân phước đã không thể chấp nhận tham gia đoàn của cha Giút-ti-nô Gia-cô-bi, nay là thánh Gia-cô-bi, đi sang Ethiopie.

 

Có viễn cảnh chân phước được bổ nhiệm làm Giám Quản Tông Toà ở đó. Chân phước đã chấp nhận để các cha Giuseppe Sapeto và Giovanni Stella đi sang miền đó: bất hạnh thay, các cha không làm các Thừa Sai mà một cha làm nhà thám hiểm, cha kia thành người đi xâm chiếm.

 

Trong lịch sử nước Ý, người ta nhớ đến các cha đó như những người khởi xướng sự xâm chiếm thực dân của nước Ý ở Erythrée. Nhưng đối mặt với sự thất bại này, phải nhớ rằng 27 vị thừa sai của chân phước đã đi đến Syrie, l’Abyssinie, Bắc Mỹ, Brasil, Trung Quốc, với những thành quả rất tích cực: các thừa sai Turinô, cùng với Feelice Andreis, đã là những người trong số các vị thành lập các Tỉnh Dòng Thừa Sai của thánh Vinh Sơn ơ nước Mỹ.

 

Khi Hầu Tước Brignole Sale, Đại sứ của Piémont, thị trưởng xứ Gênes, bị rút khỏi các hoạt động công cộng vì tình huống chống giáo sĩ ở Piémont, ông đã dành những quan tâm và tiền của vào các dự tính của mình, với sự giúp đỡ của một bà quí phái tên là Artemisa Negroni, ông muốn thành lập một chủng viện cho các ơn gọi truyền giáo, và ông đã giao chủng viện cho các Thừa Sai của thánh Vinh Sơn miền Gênes. Cha Durando, với cương vị Giám Tỉnh, đã hết mình cộng tác vào công cuộc. Năm 1854, học viện Brignole Sale Negroni đã bắt đầu hoạt động. Ba trong số 24 chủng sinh, được nhận vào nhưng không, khi học xong, được chịu chức linh mục, đi sang California năm 1858. Trong khoảng 30 năm, 110 học viên ra truờng. Sau đó, các chủng sinh nước ngoài, đến nước Ý để học, đã được nhận vào học viện.Trong số các cựu hoc viên, nhiều người đã làm Giám Mục, Giám Quản nổi danh.    

 

9.  Một Chân Dung Đẹp về thánh VINH SƠN

Từ 1830 đến 1880, sự hiện diện của cha Marcantonio Durando ở Tu-ri-no là sự hiện của người chủ chốt có nhiều sáng kiến, mà người ta đến hay phải đến hỏi ý để được những lời khuyên hay những con đường phải theo, sự hiện diện của một khuôn mẫu đời sống phải phỏng theo. Nhờ các khả năng tự nhiên, nhờ nội tâm phong phú, nhờ vai trò của các người thân trong đời sống chính trị mà chân phước có liên hệ, và đem lại cho ngài uy tín, nhờ các mối tình bạn mà ngài có, chân phước thấy mình bị lôi kéo vào một chuỗi dài phải gỡ rối giữa lòng cộng đoàn, trong đời sống giáo phận, trong các dòng tu, trong các tương quan khó khăn với các tổ chức dân sự.

 

Chân phước phải có những nhân đức dịu nhiền, nhân từ, khiêm nhường, nhưng cũng phải có sức mạnh và sự nghiêm khắc, và chúng ta biết các nhân đức sau không được ưa chuộng bằng các nhân đức trước.

 

Và đôi khi, chân phước bị đánh giá thấp.

 

Điều đó đặt ngài vào chiều kích cụ thể, điều được nhận ra trong lịch sử chứ không trong bài tán dương; như nhiều người khác, ngài cũng đã nếm mùi cay đắng của sự hiểu lầm, của những sự giải thích ít khoan dung; và những lúc thất vọng ngài cũng không thiếu.

 

May thay, chân phước không bao giờ mất tự chủ.Sức khỏe của ngài có những triệu chứng mỏng manh;song ngài đã sống gần 80 năm.

 

Ngài đã muốn được cất khỏi những chức vụ Giám tỉnh và Đại Diện tỉnh cho Nữ Tử Bác Ái, vì sức nặng của năm tháng đã gia tăng mức độ suy yếu của ngài  : Ngài chỉ nhận được sự hiện diện của một thành viên đảm trách một phần lớn trách nhiệm.

 

Như vậy, ngài có nhiều giờ hơn để cầu nguyện và để tịnh tâm bồi dưỡng đời sống nội tâm. Còng người xuống vì năm tháng, ngồi trên ghế cao, ngài luôn giữ bộ mặt vui tươi, dịu hiền. Bàn làm việc của ngài vẫn quá tải các thư từ phải gửi đi.

 

Vào mùa hè 1880, chân phước vẫn còn sức đi Casale Monferrato và học viện Virle, một trong nhiều học viện mà ngài đã dấn thân vào. Ngài cũng đã muốn hiện diện trong buổi thánh hiến Các Nữ Tử Đức Maria, Hội mà ngài đưa vào Nước Ý.

 

Rồi tình trạng sức khoẻ của ngài càng trầm trọng.Ngài trút hơi cuối cùng vào khoảng 1g30 ngày 10 tháng 12.

 

Chúng ta đã mất đi một thánh Vinh Sơn thứ hai, cha Giovanni Rinaldi, bề trên nhà Paix de Chieri nói thế.

 

Lối diễn tả được tất cả thành viên Vinh Sơn chấp nhận và là một xác tín chung rằng cha Marcantonio Durando phải được coi là như một thánh Vinh Sơn thứ hai.

 

Quả vậy, xem xét kỹ nhân cách của ngài, lối can thiệp, cách làm, khả năng diễn giải tư tưởng thánh Vinh Sơn, và làm cho thánh Vinh Sơn thành thời sự, dù đã xa cả hàng thế kỷ, ta chỉ còn xác quyết lối nói này thôi.

 

Vào dịp các nghi thức được tổ chức cho sự qua đời của chân phước, một vài điều chưa ai biết được nêu ra : chẳng hạn, việc Đức cha Fransoni, Tổng Giám Mục Tu-ri-nô, đã hỏi cha Durando về việc duyệt lại Quy Luật của các Salesiens Don Bosco, và của dòng Bác ái được Antôn Rosmini thành lập, một người bạn lớn của các Thừa sai thánh Vinh Sơn./.

BÀI VIẾT CÙNG CHỦ ĐỀ
TIN / BÀI MỚI