TINH THẦN TRUYỀN GIÁO CỦA THÁNH VINH SƠN PHAOLÔ
Cập nhật: 04/11/2018 18:54

 

Danh Hiệu

     Danh hiệu và tên của các hội dòng tu sĩ thì rất đa dạng. Có nhiều các hội dòng mang tên của đấng sáng lập ( như dòng Benedicto, Phanxicô, Đa Minh,   …) các hội dòng khác thì nhắc đến nơi mà họ được thành lập như (Premonstratensians, Camaldolese…), các hội dòng khác thì nói về việc sùng kính (như dòng Chúa Ba Ngôi, Đức Mẹ Lên Trời, Mến Thánh Giá, Thương Khó, Đức Mẹ Vô Nhiễm, Chúa Thánh Thần, Thánh Thể…), các hội dòng khác thì nói đến lối sống của họ (như dòng Tôi Tớ, Cầu Nguyện Cho Ơn Gọi, Di Dân…), dòng khác thì nói về công việc mục vụ (các sư huynh LaSan, sư huynh của trường Kitô giáo….).

     Chúng ta những người con của thánh Vinh Sơn được gọi là những người Vinh Sơn (Vincentians), hay Paules, hay Lazarists. Tuy nhiên, tên đã được chọn bởi thánh Vinh Sơn thực sự là Tu Hội Truyền Giáo, các thành viên chính là các nhà truyền giáo hoặc các linh mục cho việc truyền giáo.

     Chúng ta là nhà truyền giáo. Chúng ta là người đầu tiên được chọn danh hiệu này và vì lý do này, thánh Vinh Sơn đã thấy các linh mục của Genoa được gọi là các nhà truyền giáo (CCD III, 352). Nhà của chúng ta được gọi là nhà của các nhà truyền giáo (CCD II, 555).

Khám Phá

     Truyền giáo không phải có sẵn trong máu của Vinh Sơn. Đó là một cuộc khám phá. Ở Folleville, ngài đã cảm thấy “được sai đi”. Bài giảng ở Folleville là bài giảng đầu tiên về truyền giáo (I, 2-5). Trong ngôi nhà thờ nhỏ bị mất hút trong màu xanh lá cây của Piccardia này, thánh nhân đã nhận được đoàn sủng của ơn gọi là ra đi truyền giáo.

      Vinh Sơn và những người bạn đầu tiên của mình đã hiểu chính họ như là các nhà thừa sai của Tin Mừng. Họ bắt đầu truyền giáo trong những vùng đất của gia đình Gondi, và sau đó tinh thần truyền giáo đã thúc đẩy họ phải đi ra ngoài vùng đất đó và đi đến các thành phố và vùng nông thôn của Pháp, sau đó là Ý, Ba Lan, rồi vượt qua các Đảo Britanica và để đến điểm cuối cùng là Madagascar và cả thế giới.

 

     Cuộc sống ở vùng truyền giáo đầy những nguy hiểm và sự bỏ mạng của những nhà truyền giáo ở nơi ấy đã gây đau đớn cho ngài: “Chúng ta cầu nguyện cho cha Bourdaise, và những  anh em khác của chúng ta, cha Bourdaise, người đã ở rất xa và một mình, và ngài, như anh em đã biết “đã sinh ra trong Chúa Giêsu Kitô, với rất nhiều đau khổ và lo âu, một số đông những người nghèo của đất nước nơi cha đang sống, chúng ta hãy cầu nguyện cho cha, tôi cũng sẽ làm như thế. Không biết cha Bourdaise còn sống hay mất? Nếu cha còn sống, xin Thiên Chúa vui lòng gìn giữ cuộc sống của cha! Nếu cha đang ở trên thiên đàng, xin hãy cầu nguyện cho chúng tôi! những người anh em của cha, thật hạnh phúc cho Tu Hội khi có các thành viên tốt như vậy, cũng như tất cả các tôi tớ tốt lành của Người mà tôi đã đề cập! Trong chừng mực có thể, các anh em, tất cả chúng ta nên ở trong trạng thái này, nghĩa là sẵn sàng và sẵn lòng rời bỏ mọi thứ để phục vụ Thiên Chúa và người thân cận của chúng ta và những người thân cận của chúng ta, như anh em thấy, là vì tình yêu của Thiên Chúa” CCD XII, 62).

Đoàn Sủng

       Thánh Vinh Sơn đã nỗ lực để hiểu rằng ngài đã có một ơn gọi cao cả như thế, đó là để tiếp tục các công việc của Chúa Giêsu: “để làm cho Thiên Chúa được biết đến nơi những người nghèo; để loan báo Chúa Giêsu Kitô cho họ; để nói với họ rằng vương quốc Thiên Chúa đang đến gần và vương quốc đó là dành cho những người nghèo. Ồ, thật tuyệt vời! Nhưng nó vượt ra ngoài sự hiểu biết của chúng ta, điều đó  chúng ta nên được gọi là các cộng sự và người chia sẻ trong các kế hoạch của Con Thiên Chúa, để trở nên giống như Người. . . Tôi không dám nói là chúng ta là như thế. Hãy làm như vậy, đó là một  sứ vụ cao cả để truyền giáo cho những người nghèo, đó là ưu tú, làm công việc của Con Thiên Chúa, và chúng ta đã trở nên các  công cụ mà Con Thiên Chúa tiếp tục làm từ trên trời  những gì Ngài đã làm trên trái đất. Thật tuyệt vời để chúng ta phải ca ngợi Chúa, hỡi những người anh em của tôi và cảm ơn Ngài liên lỷ vì ân ban này! (CCD XII, 71).

     Đoàn sủng nhận được từ nhà truyền giáo hàm ý hành động: “Chúng ta thuộc về Người và không phải cho chính mình; nếu Người gia tăng công việc của chúng ta, Người cũng sẽ gia tăng sức mạnh cho chúng ta. Ôi Đấng Cứu Độ! Thật là một hạnh phúc, ôi Đấng Cứu Độ! Nếu có nhiều thiên đàng, Người sẽ ban tặng cho ai nếu không phải là một người truyền giáo, những người mà sẽ kiên trì thi hành cách kính trọng tất cả các sứ vụ mà người đã trao phó cho họ, và là người không bao giờ thất vọng để mang lấy bất kỳ trách nhiệm nào, đó là những gì chúng ta đang hy vọng, thưa anh em, và là những gì chúng ta cầu xin với Thiên Chúa ” (CCD XII, 82).

Khủng Hoảng

     Vào những năm 1600 xã hội Pháp được thống trị bởi hoàng đế và tầng lớp quý tộc sống tách biệt với dân chúng, đến nỗi không muốn nói là chế độ độc tài. Đối với dân chúng thời bấy giờ, một vấn đề nghiêm trọng đã tồn tại là người dân nghèo đã  không được biết sự thật cần thiết cho sự cứu rỗi: “anh em biết nó vĩ đại như thế nào, anh em nhận thức được sự thiếu hiểu biết của những người dân nghèo, gần như không thể tin được, và anh em cũng biết rằng không có sự cứu rỗi cho những người không biết gì về các lẽ thật Kitô giáo cần thiết, theo ý kiến ​​của Thánh Augustino, thánh  Thomas, và những vị khác, những người không biết về Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, mầu nhiệm Nhập Thể, và những mầu nhiệm khác, không thể được cứu độ. ”(CCD XII, 72). Hơn nữa, dân chúng này phải sống với tầng lớp giáo sỹ không biết đến công thức giải tội, không biết giảng thuyết và do đó đã không dạy sự thật cần thiết cho sự cứu rỗi. Sự thiếu trách nhiệm này được thêm vào rằng thực tế rằng có nhiều người “không xưng tội một cách thành thực và ai cố ý giữ lại tội lỗi luân lý; đối với những người không nhận được sự  xá giải từ họ và đã chết trong tình trạng tội lỗi, và bị giam cầm mãi mãi” (CCD XII, 73).

      Vì lý do này, ngài đã yêu cầu vị đại diện của mình tới Rome, cha du Coudray, để thỉnh cầu Đức Giáo hoàng Urban VIII: “cha hãy nói với Đức Thánh Cha rằng người nghèo đang bị giam cầm cho những điều cần thiết cho sự cứu rỗi, và vì không xưng tội. Nếu sự thánh thiện của cha nhận thức được sự cần thiết này, cha sẽ không nghỉ ngơi cho đến khi cha đã làm tất cả những gì có thể để thiết lập những điều đúng đắn. Đó là lý do chúng ta có về tình huống này đã mang lại sự thành lập Tu Hội, để khắc phục tình trạng trên theo một cách nào đó”(CCD I, 112).

     Vinh sơn biết rằng trong số các nhà thần học đã có thảo luận về sự thật cần thiết cho sự cứu rỗi, đó là  sự duy  nhất và Ba Ngôi của Thiên Chúa, sự nhập thể và sự sống đời đời. “Cha có vui để bước sang một bên khi người nghèo có nguy cơ mất sự cứu rỗi đời đời? Có phải những người đã nhìn thấy địa ngục trên trái đất lại sẽ tìm thấy nó một lần nữa trong cõi đời đời? Người nghèo có thể được cứu độ mà không có đức tin, đức cậy và đức mến không?”

Đấng Cứu Độ và Những Vị Cứu Tinh

     Năm 1658 Vinh Sơn đã viết một bức thư dài gửi cho Anthony Fleury, đang ở Saintes, nơi có nhiều người Tin Lành. Thật không dễ dàng cho người Công giáo sống đức tin của họ trong những điều kiện này. Thánh nhân đã nhắc nhớ rằng “vì, trong sự kiện thông thường của sự kiện, Thiên Chúa cứu độ con người qua con người, và Chúa chúng ta đã trở thành con người để cứu tất cả chúng ta” (CCD VII, 356). Do đó, nhà truyền giáo được kêu gọi tham gia vào công việc này của Chúa Giêsu Kitô, và để được như Chúa Giêsu Kitô: “Ồ! Thật là một hạnh phúc cho cha để làm những việc mà con Thiên Chúa đã làm.  Đức Giêsu đã đến để mang Tin Mừng đến cho người nghèo, và đó cũng chính là sứ vụ và công việc của cha”(CCD VII, 356).

      Vinh Sơn đã lặp đi lặp lại nhiều lần rằng “Tôi không yêu Chúa, nếu người thân cận của tôi không yêu Ngài” (CCD XII, 215). Do đó, những nhà truyền giáo phải “giống như Ngài, hỡi các đấng cứu độ” (CCD XII, 97). Do đó, ngài nhắc nhở: "Nếu sự hoàn hảo của chúng ta nơi công việc bác ái, như là chắc chắn, không có gì lớn hơn để dâng hiến chính bản thân chúng ta để cứu độ các linh hồn và hy sinh bản thân cho họ như Chúa Giêsu Kitô đã làm. Đây là những gì cha được kêu gọi để làm, thưa cha, và cha đã sẵn sàng để đáp trả lời kêu gọi đó” (CCD VII, 356). Nó là cần thiết để thấy rằng cuộc đời của một người truyền giáo là một cuộc sống của sự dâng hiến, một cuộc sống của việc bác ái (CCD XI, 366). Nhà truyền giáo phải là một mẫu gương sống động “rất nhiều người, nhiều linh mục như những người thợ được gửi vào vườn nho của Chúa, nhưng đã không làm công việc của Người!” (CCD VII, 356). Người có ơn gọi truyền giáo phải “bị đóng đinh với Chúa Giêsu, và tìm thấy niềm vui và danh dự của mình trong một mình Người mà thôi.” (CCD VII, 357). Do đó, nó là cần thiết để làm cho mình thích hợp với Chúa Giêsu Kitô (CCD XII, 97), để trở thành cộng tác viên của Người (CCD XI, 98).

      Tại một thời điểm, những nhà truyền giáo được biện phân bởi khuynh hướng của họ. Nhưng, chúng ta biết điều này là khuynh hướng không làm cho một người thành một tu sĩ hay một nhà truyền giáo. Nếu cha Tổng Quyền kêu gọi chúng ta đến các vùng truyền giáo là để nhắc nhở chúng ta đặt khuynh hướng đó dưới ánh sáng, biện phân như những tôi tớ của Tin Mừng. Khuynh hướng của những nhà truyền giáo là khuynh hướng có được từ tinh thần “Thánh Linh này, cư ngụ trong người đó, trao cho họ cùng một khuynh hướng và những khuynh hướng mà Chúa Giêsu Kitô đã có trên trái đất” (CCD XII, 93). Và với khuynh hướng này, những người truyền giáo có thể đi không chỉ đến mọi biên giới của thế giới, mà là của chính cuộc sống. Và hơn thế nữa.

PMT chuyển ngữ từ cmglobal.org

BÀI VIẾT CÙNG CHỦ ĐỀ
TIN / BÀI MỚI