THÁNH VINH SƠN và MẸ TÊRÊSA CALCUTTA
Cập nhật: 15/11/2017 15:28

          Trong Tin Mừng Thánh Gioan 3:16 chúng ta đọc: Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài .... Các Giáo Phụ đã chú giải về đoạn văn này và nói rằng Chúa Cha đã gửi Người Con Yêu Dấu như bằng chứng không thể chối cãi về tình yêu của Người đối với thế gian.

 

          Trong ánh sáng của sứ vụ mà Thiên Chúa giao phó cho Thánh Vinh Sơn Phaolô và Thánh Têrêsa Calcutta, là minh chứng tình yêu của chúng ta đối với Thiên Chúa và thế gian được mạc khải trong sự phục vụ yêu thương của chúng ta và chăm sóc ân cần cho người nghèo người mà Thiên Chúa luôn hiện diện.

 

          Vào năm 1657 Vinh Sơn đã nói chuyện với các Nữ Tử Bác Ái và ngài đã nói rằng: Chị em, các Nữ Tử Bác Ái, được sắp đặt để đại diện cho lòng nhân lành của Thiên Chúa đối với những người nghèo ... do đó, các chị  phải phấn đấu để phục vụ họ với lòng trung thành và sự dịu dàng, ngay cả những rắc rối và khó khăn nhất, không quên nói vài lời với họ ... luôn luôn lưu tâm đến sự kiện Thiên Chúa ở với họ (CCD: X: 267-268)

 

          Vào ngày 12 tháng 4 năm 1953, Mẹ Têrêxa Calcutta, cùng với mười một thành viên đầu tiên của cộng đoàn của mẹ, tuyên bố lời khấn về đức khó nghèo, khiết tịnh và vâng lời. Họ đã thêm vào lời khấn thứ tư là phục vụ vô vị lợi và toàn tâm cho những người nghèo nhất trong số những người nghèo. Thần Khí của Thiên Chúa đã soi sáng Mẹ Têrêsa giống như cách Đấng Sáng Lập của chúng ta đã được soi sáng vài thế kỷ trước. Một lần nữa, khi nói chuyện với các Nữ Tử Bác Ái  vào năm 1640, Vinh Sơn  đã nâng cao giọng của ngài trong lời cầu nguyện: Xin ban cho chúng con  ân sủng được sống và chết trong sự tuân giữ hoàn hảo của sự vâng lời đích sự ... Xin cho chúng con cả ân sủng sống và chết trong sự trinh khiết ... và sống tuân giữ hoàn hảo sự vâng phục. Chúng ta cũng vậy, hãy dâng chính bản thân chúng ta cho Chúa, là Thiên Chúa của chúng ta, để tôn kính và phục vụ những vị chúa của chúng ta, những kẻ nghèo khổ  trong cuộc đời chúng ta, và chúng ta cầu xin ân sủng này của Chúa qua tình yêu thánh thiện của chị em (CCD: IX: 22-23).

 

          Khi chúng ta nghiên cứu, đọc và tôn trọng các sự kiện lịch sử đã được truyền đạt cho chúng ta, chúng ta thấy rằng Thiên Chúa  không chỉ yêu thương thế gian mà còn quan tâm đến thế gian, hướng dẫn  nó và thúc đẩy  nó tiến về phía trước trong khi luôn luôn tôn trọng quyền tự do điều mà  đã được trao cho những người nam, người nữ , một tự do làm giàu cho mọi sinh linh.

 

          Năm 1657, thánh Vinh Sơn, một nhân chứng được đặc ân của thực tại này, đã nói với các Bà Bác Ái: hiệp hội của các bà là công việc của Thiên Chúa (CCD: XIIIb: 431).

 

          Vinh Sơn đã mạnh mẽ hơn và đã nói dứt khoát hơn vào năm 1642 khi cha đưa ra một cuộc đàm luận  với các Nữ Tử  Bác Ái: Ai đã làm cho các chị những gì các chị là nếu không phải là Thiên Chúa? Tôi không thể lặp lại điều này với các chị cho đủ được. Về phần chúng ta, không bao giờ lên kế hoạch cho điều đó (CCD: IX: 47).

 

           Năm 1654, Vinh Sơn đã tuyên bố: các chị nói rằng …Tu hội đã được thiết lập bởi Thiên Chúa. Trên thực tế, đó là một quy luật mà thánh Augustinô đã đưa ra rằng những gì mà con người đã không làm được đều xuất phát từ Thiên Chúa. Bây giờ, thưa các chị em, thực tế là không ai trên trái đất có thể nói, "tôi đã làm điều đó." Các chị không thể, cha M. Portail cũng không thể, hay bất cứ ai khác, không chị em nào cả , không ai có thể nói, "Tôi là người đã làm công việc này." Ôi, lạy Đấng Cứu Độ, Chúa là Đấng đã tạo ra công việc tuyệt vời này từ đó  mà CHÚA  rút ra những ơn ích  lớn như vậy. Xin Chúa chúc lành cho công việc đó mãi mãi (CCD: IX: 536-537).

 

          Mẹ Têrêsa Calcutta luôn chú tâm đến sự hiện diện của Thiên Chúa trong chính cá nhân và ơn gọi sứ vụ của Mẹ cũng như trong ơn gọi  thành lập Tu Hội Thừa Sai Bác Ái : Tất cả những điều này xảy ra vào ngày 10 tháng 9 năm 1946 khi tôi đi bằng tàu hỏa đến Darjeeling, Ấn Độ nơi tôi sẽ thực hiện cuộc tĩnh tâm hàng năm của tôi. Khi tôi đang cầu nguyện, tôi thấy rõ ràng rằng Thiên Chúa đang kêu gọi tôi, kêu gọi tôi rời khỏi hội dòng Đức Mẹ Loreto để cam kết chính bản thân tôi với những người nghèo nhất trong số những người nghèo, để sống giữa những người nam và nữ. Đó là một lời kêu gọi từ Thiên Chúa đến trong bối cảnh ơn gọi để phục vụ như một nữ tu trong hội dòng Loreto. Ngay sau đó, tôi gặp một người phụ nữ khiếm thị đã bị bỏ rơi trên đường phố và tôi bế cô ta trong vòng tay của tôi đến Bệnh viện Campbell ở Calcutta. Ở đó, cô đã bị từ chối chỉ đơn giản bởi vì cô ta là người nghèo. Vào giây phút đau đớn đó, tôi tin rằng ý muốn của Thiên Chúa  đã trở nên rõ ràng: Tôi phải thực hiện công việc này và giúp đỡ những người đã bị bỏ rơi trên phố, giúp họ chết một cách có phẩm giá. Sự quan phòng của Thiên Chúa  đã dùng  con người tầm thường  đến nỗi  người nghèo nhất trong số những người nghèo được trải nghiệm dấu hiệu rõ ràng và hiển hiện về tình yêu của Thiên Chúa trước khi họ chết.

 

          Sự quan phòng của Thiên Chúa luôn hiện diện, nhưng thường trộn lẫn giữa nhiều chi tiết mà ngay từ cái nhìn đầu tiên dường như không đáng kể. Nhưng đối với tôi các chi tiết này chứa đựng những bài học tâm linh sâu sắc.

 

          Một ngày kia, một trong các nữ tu đến và nói với tôi: thưa Mẹ, không còn  gạo nữa, và ngày mai, thứ sáu và ngày hôm sau nữa, thứ bảy, chúng ta sẽ không có gì để phân phát. Vì vậy, chúng ta nên nói với mọi người về nhà của họ bởi vì họ sẽ không nhận được sự giúp đỡ ở đây nữa.

 

          Tôi rất ngạc nhiên khi nghe nữ tu nói như thế bởi vì điều này chưa từng xảy ra trước đó. Nhưng vào ngày thứ Sáu, chúng tôi rất ngạc nhiên, một số xe tải từ thị trấn Calcutta, đầy bánh mì, đã đến trước của nhà chúng tôi. Bất ngờ và không có thông báo trước, tất cả các trường học ở Calcutta đều đã đóng cửa (Cristo en Calcuta, [Christ in Calcutta] trang 207, 208).

 

          Thánh Vinh Sơn  đã tóm  kết tất cả những điều này bằng những lời sau: Sự quan phòng  sẽ không bao giờ làm các con thất vọng ... Thiên Chúa đã hứa rằng những người chăm sóc những người nghèo sẽ không bao giờ thiếu bất cứ điều gì (CCD: IX: 11).

 

          Trong sáu lần khác nhau Vinh Sơn đã nói về Marguerite Naseau, người mà trong nhiều dịp  cha đã gọi là Nữ Tử Bác Ái đầu tiên. Trong sáu bản ghi nhận này, chúng ta nhận thấy một cách rõ ràng sự hiện diện của Chúa Quan Phòng, đó là sự biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa dành cho những người nghèo đã bị bỏ rơi trong thế kỷ XVII. Trong một cách tương tự sự hiện này của Chúa Quan Phòng được tỏ lộ trong thời đại của chúng ta trong đời sống và sứ vụ của Thánh Têrêsa, Calcutta.

 

           Vào ngày 14 tháng 6 năm 1643, Vinh Sơn đã cầu nguyện xin Thiên Chúa  ban cho Tu Hội Nữ Tử Bác ái  lòng trung thành với ơn gọi của họ như những tôi tớ của những người nghèo khổ  và cha  nhắc nhở các chị em rằng đó là sự tốt lành của Thiên Chúa đã đưa một trong các chị em chúng ta đến trước ngai của Thiên Chúa. Ở đây, Vinh Sơn đã nói về Marguerite Naseau, người mà cha không chỉ yêu thương mà còn ngưỡng mộ và coi cô là mẫu gương  cho tất cả các Nữ Tử Bác Ái. 

 

Khi cha biết Marguerite, cha nhận ra rằng cô ta [Marguerite] đã hạnh phúc khi chỉ cho mọi người thấy ... mặc dù cô hầu như không có một giáo viên hay một nữ giáo viên nào khác ngoài Thiên Chúa. Cô ấy chỉ là một nông dân nghèo, không có học thức. Được thúc đẩy bởi một nguồn cảm hứng mạnh mẽ từ thiên đàng, cô có ý tưởng muốn dạy cho bọn trẻ trẻ ... vì vậy cô đã mua một  cuốn sách vỡ lòng, và vì cô không thể  đến trường  để được hướng dẫn, nên cô đã đi hỏi cha xứ hoặc cha phó  để nói cho cô biết bốn ký tự đầu tiên trong bảng chữ cái (CCD: IX: 65). Thưa các chị em , Marguerite Naseau là nữ tu  đầu tiên đến phục vụ những người nghèo bị bệnh trong giáo xứ Saint-Sauveur, nơi hiệp hội bác ái được thành lập vào năm 1630 (CCD: IX: 65). Do yêu cầu thành lập tổ chức bác ái  tại giáo xứ Saint-Nicolas-du-Chardonnet, cô đã ngủ với một cô gái bị bệnh dịch hạch, và cô đã bị lây nhiễm từ cô bé đó  và cô  được đưa đến bệnh viện Saint Louis, nơi cô đã qua đời (CCD: IX: 473 ). Marguerite Naseau đã không tuyên hứa ba lời khấn khó nghèo, khiết tịnh  và vâng lời và cũng không thực hiện lời hứa thứ tư phục vụ người nghèo nơi những người yếu đuối, nhưng vâng, cô đã thực hành những điều mà Vinh Sơn đã bày tỏ trong cuộc đàm luận ngày 5 tháng 7 năm 1640 : Các Nữ Tử Bác Ái, mặc dù họ không có lời khấn để duy trì họ cho hiện tại, tuy nhiên, trong tình trạng của sự hoàn hảo, nếu họ là Nữ Tử Bác Ái đích thật thật (CCD: IX: 13). Một lần nữa vào năm 1643, Vinh Sơn  nói: Nếu chị em thực sự trung tín trong đường lối này, thưa các chị,  các chị sẽ là những Kitô hữu tốt lành. Tôi sẽ không nói gì nhiều nếu tôi nói với các chị rằng các chị sẽ là những nữ tu tốt (CCD: IX: 103).

 

Điều gì là nguồn gốc của khái niệm cao cả này mà Vinh Sơn đã có trong sứ vụ - ơn gọi của Nữ Tử  Bác Ái? Khái niệm này bắt nguồn từ sự nhận ra từ chính bản thân cha với Chúa Kitô, Cha của người nghèo (CCD: XIIIb: 108). Cùng lúc đó, Vinh Sơn cũng nhìn thấy Đức Kitô như là thầy dạy  và nhà truyền giáo. Như vậy, trong cuộc đàm luận ngày 5 tháng 7 năm 1640, cha đã nói: để là Nữ Tử Bác Ái  thật sự, các chị em phải làm những gì Con Thiên Chúa đã làm khi ở trên trái đất ... Ngài đã làm việc liên tục cho người thân cận, thăm viếng, chữa bệnh và hướng dẫn người ngu dốt sự cho sự cứu rỗi của họ (CCD: IX: 14), luôn luôn nhìn thấy Thiên Chúa trong họ (CCD: IX: 116, X: 431).

 

 

            Nếu chúng ta không hề nhận thức được thị kiến của Thiên Chúa trong việc phục vụ chúng ta với người nghèo, thì chúng ta thực hành hành động yêu người, đoàn kết và thiện chí, nhưng chúng ta không thực hành nhân đức của bác ái điều  mà thánh Vinh Sơn  cảm thấy là động lực thúc đẩy tất cả công việc của chúng ta. Thật vậy đức bác ái  giải thích cuộc lữ hành cá nhân và lịch sử của chúng ta trên trái đất này. Ý tưởng này đã được Vinh Sơn  trình bày khi cha  nói chuyện với các Nữ Tử năm 1646: các chị em đang phục vụ Chúa Giêsu Kitô nơi con người của người nghèo. Và điều  đó cũng thật như chúng ta đang ở đây. Một chị em sẽ đi mười lần một ngày để thăm người bệnh, và mười lần ấy chị ta sẽ tìm thấy Thiên Chúa ở đó (CCD: IX: 199).

 

           Hơn một lần các vị giáo hoàng gần đây đã cảnh báo các tu sĩ về sự nguy hiểm của trang phục của họ  theo thái độ thế tục trong sứ vụ tông đồ và họ đã được mời gọi  phản ánh thực tế rằng những gì họ làm không quan trọng bằng việc họ là những người được thánh hiến cho Thiên Chúa.

 

          Mẹ Têrêsa, trong đường hướng  với những lời của Đức Giáo Hoàng, đã khẳng định trong nhiều dịp: Chúng ta, những Người Thừa Sai Bác Ái, không phải là các y tá hay các nhân viên xã hội, mà là những nữ tu. Mọi việc chúng ta làm, chúng ta làm cho Chúa Giêsu. Chúa Giêsu giải thích đời sống chúng ta. Thật vậy, ơn gọi của chúng ta  và ơn gọi tu trì  của chúng ta phải dựa trên và bắt nguồn từ Đức Giêsu Kitô. Chúng ta, những  Thừa Sai Bác Ái, tự do và cam kết  toàn tâm với Thiên Chúa để tự do phục vụ người nghèo nhất trong số những người nghèo, nhưng làm điều đó rõ ràng rằng Chúa Giêsu luôn là trung tâm của cuộc sống. Vâng, Chúa  Giêsu gần như bị che giấu, nhưng ngài  thực sự là ở nơi sự hoảng sợ và biến dạng người của những người nam và nữ nghèo khổ, những người nghèo khổ bị bỏ rơi, thậm chí bởi chính gia đình của họ (Cristo en Calcuta, trang 31-32).

 

          Vào  lúc này này, chúng ta tạm dừng và với Mẹ Têrêsa, chúng ta tự hỏi: Ai đã làm hoặc sáng tạo nên người nghèo? Chắc chắn đó không phải là Thiên Chúa. Vì vậy nó phải là do những con người khác. Về mặt logic, nó phải là những con người khác. Và có thể đó cũng không phải là chúng ta là những người giúp đỡ họ, những người quan tâm đến họ, an ủi họ những người làm mọi thứ có thể để họ có thể rời khỏi vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói này thường gây khó chịu nhất cho tất cả những người được tạo ra theo hình ảnh và giống  hình ảnh Thiên Chúa (Cristo en Calcuta [Christ in Calcuta] trang 210).

 

          Một lần nữa chúng ta lại hỏi: những người nghèo này là ai người mà được chăm sóc bởi những người con của Mẹ Têresa? Những người nghèo nhất, bất kể giai cấp, tín ngưỡng hay  quốc tịch, là những người đói, khát, trần truồng, những kẻ dốt nát, những kẻ bị bắt, những người tàn tật, người phong cùi, những người nghiện rượu, những bệnh nhân AIDS, những người không ai ưa ... tất cả những người được coi là gánh nặng cho xã hội và những người đã mất hết hy vọng và niềm tin vào cuộc sống (Hiệp hội quốc tế các cộng sự của Mẹ Têrêsa, Báo cáo thường niên-1995).

 

          Cũng như cách mà thánh Vinh Sơn Phaolô đã thêm vào danh sách những người nghèo khổ quá đỗi Mẹ Têresa đã thêm rằng  những người này  đã đánh mất thị giác của Thiên Chúa, những người mà Thiên Chúa không còn "là" nữa nhưng "đã là".  Mẹ cho rằng nó cũng bao gồm những người khao khát Lời Chúa, vì bình an, vì sự thật, vì công lý và vì tình yêu (Cristo en Calcuta [Christ in Calcuta] trang 210).

 

          Giải thích cho điểm quan trọng này, Mẹ Têresa đã nói hơn một lần: Các nhà báo từ thế giới thứ nhất hỏi tôi: với cái nghèo đói rộng khắp ở Ấn Độ như thế, tại sao mẹ lại gửi những thừa sai của Mẹ  đến không chỉ các quốc gia nơi có nhu cầu vật chất ít hơn mà còn đến các quốc gia thịnh vượng và giàu có khác? Phản ứng của tôi đã và luôn luôn giống nhau: đói nghèo thiêng liêng của  con người sống trong các quốc gia thịnh vượng này còn tệ hơn nghèo đói vật chất ở Ấn Độ.

 

          Vâng, ở Ấn Độ thường thiếu gạo, nhưng những người chết đói thì tin vào Thiên Chúa và tin vào sự sống đời sau; họ thật sự yêu mến Đấng Tạo Hóa và Thiên Chúa của họ. Ngược lại, ở những quốc gia giàu có này, người ta không chỉ không tin vào Thiên Chúa mà nhiều người sống như thể Thiên Chúa không tồn tại và dường như họ bị thuyết phục rằng họ có thể tự quản lý cuộc sống của họ mà không cần phải dựa vào một  Đấng người đã dựng nên họ, Đấng  mà yêu thương họ không ngừng bất chấp sự vô ơn và vô minh của họ. Sự nghèo đói thiêng liêng này thì  xảo quyệt và lừa dối hơn là đói nghèo vật chất ở  Ấn Độ hoặc Ethiopia và, như chúng ta biết, cũng rất khó để tiêu diệt và loại bỏ.

 

          

          Công việc tông đồ của các thừa sai là của công việc bác ái và tại các quốc gia khác nhau nơi chúng tôi phục vụ, chúng tôi, qua cuộc sống khổ hạnh và sự trợ giúp của chúng tôi, cố gắng chỉ cho những cá nhân không có bạn bè hay gia đình hoặc bạn đồng hành rằng sự giàu có của cải vật chất đã không bao giờ lấp đầy trái tim con người với hạnh phúc đích thực. Có những cách khác để được hạnh phúc, những cách khác để cảm thấy thỏa mãn, những cách khác để trải nghiệm niềm vui và sự lạc quan, và những "những cách khác" có mọi thứ  để làm cho Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa của chúng ta; với Chúa Giêsu Kytô, Đấng Cứu Chuộc của chúng ta; với đời sống cầu nguyện, vv.

          Đây là công việc của chúng tôi  trong các quốc gia  giàu có và văn minh và tôi khiêm tốn tuyên bố rằng điều này phù hợp với những gì Chúa đã làm trong ba năm hoạt động tông đồ tại Palestine (Hiệp hội quốc tế  các  cộng sự  của Mẹ Têrêsa.)

 

          Trong một bối cảnh xã hội, văn hoá và lịch sử khác biệt so với chúng ta, thánh Vinh Sơn Phaolô đã chia sẻ những ý tưởng và mối quan tâm tương tự của Mẹ Têrêsa, nghĩa là những ý tưởng và mối quan tâm của mẹ đối với nghèo đói thiêng liêng, không chỉ sự nghèo đói thiêng liêng của những người giàu có nhưng nghèo khổ thiêng liêng của những người nghèo mà vì thế các nữ tử bác ái đã được thành lập. Điều quan trọng là lắng nghe và suy ngẫm những lời củaisvinh sơn đã nói trong thế giới hôm nay đặc biệt là khi có nhiều linh mục và tu sĩ có khuynh hướng giới hạn các việc phục vụ của họ đối với mức vật chất, con người hoặc xã hội khi đối phó với những người có nhu cầu.

 

          Ở đây, chúng ta có suy nghĩ  của Đấng  Sáng Lập về chủ đề quan trọng nhất: các chị  thấy đấy, các chị em thân mến, đó là một điều để giúp đỡ những người nghèo khổ; tuy nhiên, thật ra, nó không bao giờ là ý định của Chúa  chúng ta trong việc thiết lập tu hội của các chị em để chỉ nên quan tâm đến thể lý, bởi vì sẽ luôn luôn có ai đó để làm điều đó; nhưng ý định của Thiên Chúa chúng ta là các chị em giúp đỡ những kẻ đau khổ về tinh thần; và để làm điều đó bạn phải suy nghĩ nội tâm, " tôi hoạt động trong giáo xứ của tôi như thế nào? Làm thế nào để phục vụ bệnh nhân của tôi? Chỉ có đối với thể lý của họ, hay là thân xác và linh hồn  với nhau? Vì, nếu ý định của tôi chỉ là để giúp họ thể lý, than ôi! đó là một vấn đề nhỏ; bất cứ ai cũng có thể làm được nhiều như vậy. "Một người gian ác hoặc một người thờ thần tượng có thể chăm sóc cho chuyện thể lý.  Đó là lý do tại sao Chúa chúng ta không chỉ lập tu hội một cách đơn giản vì lý do đó, vì điều tự nhiên bắt buộc mọi người phải làm như vậy. Nhưng nó không giống với việc linh hồn. Không phải ai cũng có thể giúp đỡ trong vấn đề đó, và Thiên Chúa  đã chọn chị em chủ yếu để dạy những lẽ thật cần thiết cho sự cứu rỗi của họ. Suy niệm  trong chính bản thân chị em và nói, "Trong việc phục vụ mà tôi đã làm cho những người nghèo, tôi có chỉ lo lắng với sự giúp đỡ họ về thể xác hay không? Nếu, cho đến bây giờ, suy nghĩ duy nhất của tôi là cung cấp cho họ thức ăn, thuốc men, và những thứ khác liên quan đến thể lý, tôi đã không hoàn thành nghĩa vụ của mình. Xin tha lỗi cho con lạy Chúa, vì quá khứ đó! "(CCD: X: 269).

          Tôi muốn kết thúc bài trình bày này với những lời của Đức Gioan Phaolô II, người đã chứa đầy những lời của Thánh Vinh Sơn Phaolô: Giáo hội khuyến khích đời sống tu sĩ  không những chỉ muốn hướng các dòng tu và các thành viên của mình vào việc canh tân nội tâm  mà còn mong muốn tất cả các tu sĩ sẽ mang đến sự phục vụ cho nhân loại. Sự phục vụ cụ thể mà tu sĩ  được mời đến để mang đến ngày hôm nay là nhằm giảm bớt đói nghèo lớn nhất trong thời đại chúng ta: nghèo đói là kết quả của sự chối bỏ  Thiên Chúa, một sự đói nghèo thường rất im lặng nhưng tiếc là nó là rất dứt khoát, mà nhiều người đã mất tất cả ý nghĩa trong cuộc sống và do đó đã bắt đầu sống một chủ nghĩa vô thần hiện thực và hiện sinh.  

          Những cá nhân như vậy không chống lại Thiên Chúa, nhưng chỉ đơn giản vứt bỏ Thiên Chúa sang một bên. Họ không tấn công Giáo Hội vì vì họ Giáo Hội là một thực thể lịch sử văn hoá trong quá khứ mà ngày nay không có liên quan. Do đó, tu sĩ, với sứ vụ, cuộc sống và lời nói của họ, phải cho thấy niềm vui tuôn chảy từ tình yêu của Thiên Chúa, niềm vui tuôn chảy  từ vẻ đẹp tự do của hoa trái của tình yêu này điều đã được biến đổi vào trong sự phục  vụ vô vị lợi đối với người lân cận, trong những người này Thiên Chúa của tình yêu thì sống động. (Enseñanzas al Pueblo de Dios de Juan Pablo II [Lời dạy của Gioan Phaolô II cho Dân Chúa], trang 117).

Jesús Larraneta, CM

PMT chuyển ngữ từ cmglobal

BÀI VIẾT CÙNG CHỦ ĐỀ
TIN / BÀI MỚI