Nhận Biết Tình Thương Của Chúa
Cập nhật: 03/04/2015 05:45

 

Bài chia sẻ số 1:

 

Trong Sứ điệp Mùa Chay năm nay, Đức giáo hoàng định nghĩa Mùa Chay là mùa hoán cải và mùa hồng ân. Đức giáo hoàng cũng nhận xét rất tinh tế, sự hoán cải đến sau sự nhận biết hồng ân, tức là nhận biết tình thương của Chúa. Có thể nói, mục đích của Mùa Chay là để chúng ta hoán cải, nhưng để hoán cải thực sự, chúng ta phải trước hết nhận biết mình được Chúa yêu thương. Bởi vậy, trong hai ngày hôm nay và ngày mai, tôi chia sẻ hai chủ đề sau: 1/ Nhận biết tình thương của Chúa, và 2/ Hoán cải.

 

Trong ngày chia sẻ thứ nhất – Nhận biết tình thương của Thiên Chúa, tôi chia sẻ ba khía cạnh cao vời của tình yêu Chúa, như sau: 1/ Tình yêu Chúa thể hiện qua thập giá của Chúa Giêsu; 2/ Tình yêu Chúa thể hiện qua Bí tích Thánh Thể; và 3/ Tình yêu Chúa thể hiện qua lòng thương xót tha thứ, đặc biệt nơi Bí tích Giải tội.

 

1/ Tình yêu thập giá của Chúa Giêsu

Tôi mới đọc cuốn sách của Cha Robert Barron, hiện là Giám đốc Đại chủng viện Mundelein, Chicago. Tựa đề cuốn sách là The Strangest Way. Chúng ta có thể dịch là Con đường, hay Đạo, hay Tôn giáo kỳ lạ nhất. Tại sao lại có Đạo kỳ lạ nhất, và Đạo kỳ lạ nhất là Đạo gì?

 

Ngay đầu cuốn sách này, Cha Barron kể câu chuyện về một cuộc đối thoại liên tôn giữa Kitô giáo và Phật giáo, được tổ chức tại Đan Viện Đức Mẹ Gethsemani, năm 1996, ở Kentucky. Các thành viên tham dự cuộc gặp gỡ này là các tu sĩ và chuyên viên nổi tiếng của cả hai phía Phật giáo và Kitô giáo, trong đó có cả vị Đạt Lai Lạt Ma, một vị sư Tây Tạng rất nổi tiếng.

 

Nhưng ngoài điều đó ra, sẽ chẳng có gì đặc biệt và đáng nói về cuộc gặp gỡ này, nếu như không có một câu hỏi rất bất ngờ và xem ra rất đơn giản của một vị sư Phật giáo.

 

Vị sư đã đặt ra một câu hỏi mà đối với người Công giáo chúng ta là quá đỗi bình thường, và bình thường quá đến nỗi chúng ta chẳng còn để ý tới nữa. Riêng đối với ông thì đó là một cái gì hết sức kỳ lạ và khó hiểu, thậm chí gây sốc cho ông. Đó là ông thấy ở khắp nơi trong Đan viện, từ Nhà nguyện, cho đến phòng ăn, cho đến phòng ngủ, cho đến phòng hội họp, cho đến các hành lang, nói chung là khắp nơi, đều có treo hai mảnh gỗ được đóng ngang nhau, với tượng một người bị đóng đinh chết thảm thương trên đó.

 

Ông thắc mắc không biết người Công giáo trưng bày cây gỗ có người bị đóng đinh như thế để làm gì. Bởi vì đối với ông là tu sĩ Phật giáo, đời là bể khổ. Các phương pháp thiền định cũng như tu luyện của Đạo Phật là để diệt khổ, để thoát khỏi bể khổ trần gian. Thế mà người Công giáo lại xem ra phơi bày cảnh khổ ra.

 

Như Cha Barron nhận xét, câu hỏi tưởng chừng như rất đơn sơ của vị sư đó đã giúp cho các linh mục tu sĩ Công giáo tham gia buổi đối thoại ngày hôm đó nhận ra cái kỳ lạ nhất của Đạo Công giáo, mà bản thân các ngài đã chẳng đề cập đến vì tưởng như nó quá bình thường.

 

Tôi thiết nghĩ đó cũng là câu hỏi giúp chúng ta ngày hôm nay suy nghĩ lại về mầu nhiệm thẳm sâu và cũng là kỳ lạ nhất của Đạo chúng ta, là cái chết của Chúa Giêsu trên cây thập giá. Là những người Công giáo, chúng ta đã dường như quá quen thuộc với cây thập giá. Đi tới đâu chúng ta cũng gặp cây thập giá. Thậm chí chúng ta còn lấy cây thập giá làm đồ trang sức rất đẹp bằng vàng và bằng bạc. Chúng ta không còn cảm thấy sự kỳ lạ, thậm chí là cú sốc của cây thập giá.

 

Muốn thấy được sự kỳ lạ và cú sốc của cây thập giá, chúng ta chẳng cần nghiên cứu hay tìm tòi gì cho vất vả. Chúng ta chỉ cần mở các thư của thánh Phaolô và sẽ thấy ngay.

 

Chẳng hạn, trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô, ngài nói thế này: Chúng tôi rao giảng Đấng Kitô chịu đóng đinh, đó là “cớ vấp phạm cho người Do thái, và là sự điên rồ đối với dân ngoại.”

 

Một cớ vấp phạm đến nỗi mà như chúng ta biết, Chúa Giêsu chính là Đấng Mêsia đã được loan báo từ thời Cựu ước cho người Do thái, nhưng  cho đến tận ngày hôm nay, đâu có mấy người Do thái tin Chúa Giêsu. Mặc dù cũng đọc Kinh Thánh Cựu Ước như chúng ta, nhưng theo cách hiểu của người Do thái, Đấng Mêsia phải là vua trần thế theo đúng nghĩa đen. Khi Đấng Mêsia xuất hiện, Ngài sẽ lên làm vua của họ, sẽ tiêu diệt mọi kẻ thù của họ, và đem đến cho họ sự thịnh vượng. Chúa Giêsu bị đóng đinh và chết quá sức sỉ nhục như vậy mà nói là Đấng Mêsia thì có gì vấp phạm hơn?

 

Còn đối với dân ngoại, đặc biệt đối với người Hy lạp thời bấy giờ, là cái nôi của nền triết học, với các ông tổ triết học nổi tiếng Socrates, Plato, Aristotle, thì cái chết của Chúa Giêsu mà nói là cái chết của Thiên Chúa thì quá sức điên rồ, bởi vì nó trái với mọi lý luận thường tình. Lý trí con người không thể nào mường tượng được Thiên Chúa mà lại chết.

 

Liên quan đến người Hy lạp, chúng ta cũng nhớ đến bài giảng của thánh Phaolô ở Hội đồng Arêôpagô, tại thủ đô Athens của họ. Đây là bài giảng được đánh giá là bất hủ của ngài, và là bài giảng cho thấy ngài là bậc thầy về giảng thuyết.

 

Khi ngài bắt đầu giảng, các triết gia và dân chúng Athen rất chăm chú lắng nghe. Mà để cho các triết gia và dân trí thức chăm chú lắng nghe thì không phải là dễ. Ngài mở đầu bằng cách khen họ sùng đạo. Họ sùng đạo đến mức họ thờ rất nhiều loại thần khác nhau, và để cho chắc ăn họ còn đặt một bàn thờ và khắc chữ “Kính thần Vô danh.” Họ nghĩ rằng nếu lỡ ra còn có vị thần nào đó mà họ không biết để tôn thờ, thì với bàn thờ này, vị thần đó sẽ không nổi giận với họ.

 

Thánh Phaolô, nhân cơ hội đó, đã giới thiệu Thần Vô danh đó cho họ. Ngài giới thiệu cho họ biết về Thiên Chúa, và về Chúa Giêsu là Đấng Thiên Chúa gửi đến cho nhân loại, để qua Chúa Giêsu nhân loại được hoán cải và nhìn thấy Thiên Chúa. Và bằng chứng cho điều này là Thiên Chúa đã cho Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết.

 

Vừa khi nghe thánh Phaolô nói Chúa Giêsu là Đấng sống lại từ cõi chết, một số người đã nhạo cười thánh Phaolô, một số khác thì có vẻ lịch sự hơn, nhưng rất mỉa mai: “Để khi khác chúng tôi sẽ nghe ông nói về điều này.” Có nghĩa là “Xin mời ông đi chỗ khác chơi vì ông nói điều quá vô lý.”

 

Đối với các triết gia Hy lạp, khi nói Chúa Giêsu là Thiên Chúa mà lại chết, và Chúa Giêsu là một con người mà chết rồi có thể sống lại, thì trái với lý luận tự nhiên. Họ không bao giờ tin.

 

Công cuộc truyền giáo của Giáo hội ngay từ thời sơ khai, với vị tông đồ đầy nhiệt huyết và tài giỏi Phaolô, đã gặp phải sự kháng cự mãnh liệt như vậy. Rao giảng về một đạo mới, mà cốt lõi là Chúa Giêsu chịu đóng đinh, đã bị rớt ngay vòng đầu. Cả người Do thái là đồng hương của Chúa Giêsu và cả người Dân ngoại là những người được Tin Mừng nhắm đến đều không thèm tin, không thèm nghe, thậm chí còn chế giễu khi được rao giảng về một vị Thiên Chúa mà lại chết đau khổ trên thập giá.

 

Giáo hội ngày nay cũng gặp những khó khăn y như vậy. Bất chấp những nỗ lực truyền giáo của Giáo hội, nhiều người đâu có muốn nghe về tình thương của Chúa thể hiện qua cái chết của Chúa Giêsu. Họ hoặc là những người muốn có một vị thần nào đó, cụ thể là thần tiền bạc, để bảo đảm cho họ cuộc sống ở trần gian này mà thôi. Hoặc là họ thuộc những người nghĩ mình quá thông thái và giỏi giang đến nỗi không cần đến mạc khải của Chúa.

 

Tuy nhiên, dù gặp khó khăn như thế và cũng ý thức được điều đó, Giáo hội vẫn luôn luôn đặt tượng Chúa Giêsu chịu nạn ở trung tâm và chỗ quan trọng nhất trong các Nhà thờ, cũng như trong các nơi thờ phượng. Giáo hội một cách rõ ràng lấy lại cũng chính lời thánh Phaolô: “Chúng tôi rao giảng Đấng Kitô chịu đóng đinh,”“Từ nay tôi không còn biết đến một điều gì khác nữa, ngoại trừ Đức Kitô chịu đóng đinh.”

 

Tại sao như vậy? Tại sao chúng ta biết rõ ràng là rao giảng và giương cao Chúa Giêsu chịu đóng đinh như thế là một sự điên rồ đối với nhiều người như vậy, mà chúng ta vẫn cứ thực hiện?

 

Câu trả lời rất đơn giản: Vì đó là biểu hiện tột đỉnh của tình yêu Thiên Chúa và của Chúa Giêsu dành cho con người chúng ta.

 

Trong những ngày cao điểm của Tuần Thánh sắp tới, chúng ta sẽ có những cử hành diễn tả lại cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Đặc biệt trong ngày Chúa Nhật lễ lá và Thứ sáu Tuần thánh, chúng ta được nghe từ đầu đến cuối tường thuật của các Tin Mừng về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, từ khi Ngài chuẩn bị ăn lễ Vượt Qua, cho đến khi Ngài được táng xác trong mồ.

 

Các sách Tin Mừng không ngần ngại cho chúng ta thấy sự đau khổ của Chúa Giêsu:

 

Khi suy gẫm về tất cả những điều đó, thánh Phaolô đã diễn tả lại một cách tuyệt vời trong thư gửi tín hữu Philípphê: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng đã hủy mình ra không và vâng phục cho đến chết, chết trên cây thập giá” (Pl 2, 6-7).

 

Nơi thập giá, Chúa Giêsu là Thiên Chúa đã hủy mình ra không. Ngài đã “emptied himself,” đã làm trống rỗng bản thân Ngài. Một Thiên Chúa tạo dựng tất cả mọi sự, và có quyền trên hết mọi sự, bây giờ ở trên cây thập giá, Ngài chẳng có gì, Ngài trở thành hư không.

 

Và trước đó bảy thế kỷ, tiên tri Isaia đã tiên báo và mô tả sự tự hủy của Chúa Giêsu như sau: Người ta sẽ thấy Ngài tàn tạ mất hết vẻ người, dung nhan Ngài cũng không còn nữa. Ngài chẳng còn hình dáng, chẳng còn sắc đẹp để chúng ta ngắm nhìn, không còn vẻ bề ngoài để chúng ta yêu thích. Ngài bị người đời khinh dể như kẻ thấp hèn nhất, như kẻ đau đớn nhất, như kẻ bị khinh dể nhất. Ngài bị người ta coi như kẻ bệnh hoạn, như kẻ phong cùi, bị Thiên Chúa đánh phạt và làm cho nhuốc hổ. Ngài như con chiên hiền lành bị đem đi giết, và như con chiên non trước mặt người xén lông, Ngài thinh lặng chẳng hề hé môi.

 

Nhìn vào Chúa Giêsu trên cây thập giá, có lẽ tất cả chúng ta đều phải kinh ngạc vì sự mô tả quá sức chính xác như thế của tiên tri Isaia, và lời mô tả này đã được viết ra trước đó bảy trăm năm.

 

Đó chẳng phải là điều kỳ lạ nhất hay sao? Và Đạo của chúng ta tôn thờ Chúa chịu đóng đinh và hủy mình ra không như thế, chẳng phải là Đạo kỳ lạ nhất hay sao?

 

Đạo chúng ta đúng là đạo kỳ lạ nhất. Và điều kỳ lạ đó không diễn tả điều gì khác hơn là tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Chúa Giêsu yêu thương chúng ta quá mức đến nỗi Ngài đã hư vô hóa chính bản thân của Ngài vì chúng ta.

 

Cũng chính tiên tri Isaia đã nói như sau: Ngài bị thương tích như thế là vì tội lỗi chúng ta, bị tan nát như thế là vì sự gian ác của chúng ta. Ngài lãnh lấy hình phạt cho chúng ta được bình an, và bởi thương tích của Ngài mà chúng ta được chữa lành. Chúa đã chất trên Ngài tội ác của tất cả chúng ta (Is 52-53).

 

Đó là điều thứ nhất tôi muốn chia sẻ với quý ông bà anh chị em. Mùa Chay mời gọi chúng ta nhớ lại và suy gẫm một cách sâu xa về cái chết của Chúa Giêsu để thấy rằng Chúa yêu thương chúng ta biết là dường nào. Mùa Chay mời gọi chúng ta nhìn vào cây thập giá với cái nhìn mới mẻ, như cái nhìn của một người lần đầu tiên thấy cây thập giá, để thấy rằng cây thánh giá gây sốc như thế nào, và biểu lộ tình thương kỳ lạ của Chúa ra sao.

 

2/ Bí tích Thánh Thể

Điều kỳ lạ thứ hai và cũng là cú sốc vô cùng lớn, không những cho con người thời đại ngày hôm nay, mà còn cho những người trực tiếp nghe Chúa Giêsu, chính là Bí tích Thánh Thể.

 

Trong thời gian ba năm đi rao giảng, Chúa Giêsu đã làm những phép lạ hóa bánh ra nhiều. Đó là những dấu chỉ Chúa Giêsu sẽ lập Bí tích Thánh Thể để lấy chính thịt và máu của Ngài mà nuôi dưỡng chúng ta. Và đặc biệt Tin Mừng Gioan, sau khi đã tường thuật về việc Chúa Giêsu hóa bánh ra nhiều cho năm ngàn người đói khát được ăn no nê mà vẫn còn dư mười hai thúng đầy, đã dành hẳn chương sáu để nói về Bí tích Thánh Thể. Chúa Giêsu nhân sự kiện này đã một cách minh nhiên tuyên bố: Ta là Bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn Thịt và uống Máu Ta thì sẽ có sự sống đời đời.

 

Diễn từ của Chúa Giêsu về Bí tích Thánh Thể này đã không những gây sốc cho người Do thái, mà ngay cả các môn đệ của Chúa Giêsu. Nhiều môn đệ sau khi nghe Chúa Giêsu nói về Thịt và Máu Ngài, đã bỏ Chúa mà đi.

 

Ngay trước đó, người ta rất hồ hởi khi thấy Chúa Giêsu hóa bánh ra nhiều. Họ tuyên bố Chúa Giêsu là vị ngôn sứ, và họ còn muốn đưa Chúa Giêsu đưa đi làm vua. Thế mà chỉ trong một phút chốc, khi Chúa Giêsu nói Thịt và Máu của Ngài còn quý báu hơn nhiều và là của ăn đích thực cho họ, thì họ đã trở mặt hoàn toàn.

 

Tình huống này đâu khác gì ngày Chúa Giêsu tiến vào Giêrusalem để ăn lễ Vượt Qua và chịu chết. Mới ngày đầu tiên, dân chúng còn cầm nhành lá thiên tuế ra đón Chúa Giêsu và reo hò: “Hoan hô! Hoan hô! Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến! Chúc tụng vua Ít-ra-en!” Thế mà chỉ vài ngày sau, cũng chính những người này lại reo hò: “Đóng đinh nó vào thập giá!”

 

Bí tích Thánh Thể kỳ lạ và gây sốc cho con người ta không khác gì Cây thập giá của Chúa Giêsu.

 

Chúa Giêsu đã phải quay sang hỏi Phêrô là đại diện Nhóm Mười hai: Cả các con nữa, các con có muốn bỏ Thầy mà đi không? Và ông Phêrô đã trả lời: Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai. Thầy mới có Lời ban sự sống đời đời.

 

Việc gì đến cũng đã đến. Chính nơi Nhà Tiệc ly, trước khi chia tay các môn đệ để ra đi chịu chết vì nhân loại, tình yêu của Chúa Giêsu dành cho loài người đã dâng trào. Ngài đã thiết lập Bí tích Thánh Thể, và Ngài đã truyền lệnh cho Giáo hội phải cử hành Bí tích Thánh thể mọi ngày cho đến tận thế, để tất cả con cái loài người được hưởng món quà tình yêu kỳ diệu của Chúa là Thịt và Máu của Ngài. Trong ngày thứ Năm Tuần thánh tới đây, toàn thể Giáo hội trên khắp hoàn cầu, sẽ có những giờ Chầu trọng thể để kỷ niệm Ngày trọng đại Chúa Giêsu thiết lập Bí tích Thánh Thể.

 

Để diễn tả sự hiện diện đích thực của Chúa Giêsu nơi Bí tích Thánh Thể, Công đồng Trentô trong khóa họp thứ 13, năm 1551, đã dùng ba từ ngữ trong Tiếng Anh như sau: really, truly, substantially. Really có nghĩa là thực sự, truly có nghĩa là đích thực, và substantially có nghĩa là bản thể. Bản thể là từ ngữ triết học, có nghĩa là tấm bánh và rượu nho sau khi đã được truyền phép thì mang lấy bản thể của Chúa Giêsu. Tấm bánh và chén rượu sau khi được linh mục truyền phép chính là bản thân Chúa Giêsu.

 

Thánh Tôma Aquinô, vị tiến sĩ thông thái bậc nhất của Giáo hội, cũng đã phân biệt giữa sự hiện diện của Chúa Giêsu nơi Bí tích Thánh thể và nơi các Bí tích khác. Ngài nói, trong khi năng quyền (power, virtus) của Chúa Giêsu hoạt động trong tất cả các Bí tích, thì chính Chúa Giêsu (Christ himself, ipse Christus) hiện diện nơi Bí tích Thánh thể.

 

Có nghĩa là khi chúng ta được rửa tội thì năng quyền của Chúa Giêsu hoạt động để biến đổi chúng ta thành con cái Chúa; khi chúng ta chịu Bí tích Xức dầu thì năng quyền của Chúa Giêsu hoạt động để củng cố sức mạnh cho chúng ta, vân vân cho các Bí tích khác. Nơi các Bí tích, Chúa Giêsu hoạt động bằng năng quyền của Ngài.

 

Còn riêng nơi Bí tích Thánh thể thì ipse Christus, thì Christ himself hiện diện. Chính Chúa Giêsu ngày xưa hiện diện như thế nào và chính Chúa Giêsu hiện diện trên trời bây giờ ra sao, thì Ngài hiện diện nơi Bí tích Thánh thể y như vậy. Bởi vậy, chúng ta gọi Bí tích Thánh thể là Bí tích cực trọng, là Bí tích trung tâm của các Bí tích khác.

 

Trong thông điệp Giáo hội của Thánh Thể - Ecclesia de Eucharistia, ngày Thứ năm tuần thánh năm 2003, Đức thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã gọi Đức Mẹ bằng một tước hiệu hết sức gần gũi và chính xác, đó là “Người nữ của Thánh Thể.” Mẹ là người nữ của Thánh Thể vì không những Mẹ cưu mang Thánh Thể, mà Mẹ còn cả đời gắn bó với Thánh Thể và sống mầu nhiệm Thánh Thể trong suốt cuộc đời của Mẹ.

 

Qua hình ảnh Đức Mẹ là người nữ của Thánh Thể, Đức thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng mời gọi chúng ta trở thành những người nam và người nữ của Thánh Thể. Ngài mời gọi chúng ta trở thành những người nhận biết và trở thành những chứng nhân cho sự kỳ lạ của tình thương Thiên Chúa thể hiện nơi Bí tích Thánh Thể.

 

Chính Giáo hội, qua Hiến chế Ánh sáng Muôn dân, số 11, đã xác nhận: Việc cử hành Thánh thể là nguồn mạch và là chóp đỉnh của đời sống người Kitô hữu.

 

Không có gì trên đời này quan trọng bằng Bí tích Thánh Thể vì đó chính là sự hiện diện đích thực của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu Thánh Thể là nguồn mạch sự sống và là chóp đỉnh của mọi ưu tiên trong cuộc đời chúng ta.

 

Cũng bởi vậy, thánh Gioan Vianne nói: Không có Thánh Thể thì cũng chẳng có niềm vui nào trên trái đất. Khi chúng ta rước lễ là chúng ta rước niềm vui và hạnh phúc của cuộc đời chúng ta. Khi chúng ta rước lễ, chúng ta tan biến vào Chúa, như giọt nước tan biến trong đại dương.

 

Còn thánh Tôma Aquinô, một nhà triết học và thần học thông thái bậc nhất của Giáo hội. Ngài có khả năng đọc cho hai thư ký viết về hai chủ đề khác nhau cùng một lúc. Ngài để lại rất nhiều sách vở bênh vực Giáo hội và làm kim chỉ nam cho Giáo hội. Khi phải đối diện với bất cứ vấn đề hóc búa nào, ngài đều đến cầu nguyện trước Bí tích Thánh thể, thường là tựa đầu vào ngay Nhà tạm, và xin ơn soi sáng của Chúa.

 

Năm nay là năm đời sống thánh hiến, chúng ta hãy khích lệ con cái chúng ta dâng mình cho Chúa làm tu sĩ và linh mục. Thiên chức linh mục là điều quý trọng nhất trên trần gian này, bởi vì thiên chức linh mục gắn liền với Thánh Thể Chúa. Vào Thứ năm Tuần thánh, Giáo hội đặc biệt cử hành việc Chúa Giêsu thiết lập Bí tích Thánh Thể và thiên chức linh mục. Chúng ta cầu nguyện để các linh mục có đời sống gắn bó với Bí tích cực cao cực trọng mà từ đó các ngài được sinh ra.

 

Đối với bản thân chúng ta, một phép lạ vĩ đại, vô cùng kỳ lạ ngày nào cũng diễn ra tại mọi Nhà thờ trên thế giới, đó là phép lạ Thánh Thể. Phép lạ này diễn ra mọi ngày cho đến tận thế vì tình thương đến cùng của Chúa Giêsu đối với loài người. Ngài yêu chúng ta đến nỗi muốn ở lại với chúng ta, đã hiến thân xác và máu Ngài cho chúng ta ăn và uống để được kết hợp với Ngài và có sự sống đời đời.

 

3/ Ơn tha thứ của Chúa Giêsu

Điểm kỳ lạ thứ ba tôi muốn chia sẻ là lòng thương xót tha thứ của Thiên Chúa. Ngài thương chúng ta đến nỗi Ngài hằng tuôn trào ơn tha thứ cho chúng ta.

 

Triết gia Soren Kierkegaard, một triết gia nổi tiếng ở nửa đầu thế kỷ XIX, đã nói: Chúa tạo nên trời đất vũ trụ từ hư vô đã là vô cùng kỳ lạ rồi. Nhưng còn kỳ lạ hơn thế là Chúa đã tạo nên các thánh nhân từ các tội nhân.

 

Lịch sử Giáo hội đã chứng minh điều đó. Một Phêrô công khai chối Chúa ba lần, trở thành thánh Phêrô, vị Giáo hoàng đầu tiên. Một Saolô bách hại đạo Chúa, trở thành thánh Phaolô vị Tông đồ vĩ đại cho dân ngoại. Một Mađalêna, một Augustinô, một Phanxicô Assisi, một Inhaxiô Loyola, một Charles de Foucauld, vân vân, tất cả đều là những tội nhân, nhưng đã trở thành những thánh nhân, những thánh nhân vĩ đại của Giáo hội.

 

Điều đó diễn tả sự thật mà Thiên Chúa đã nói qua ngôn sứ Isaia: “Tội các ngươi dù có đỏ như son, cũng ra trắng như tuyết; có thẫm tựa vải điều, cũng hóa trắng như bông.”

 

Khi giải thích về các dụ ngôn của Chúa Giêsu, cũng như về việc Chúa Giêsu thường xuyên gần gũi những người tội lỗi, Đức giáo hoàng Phanxicô đã nói như sau: “Chúa Giêsu quên. Ngài có một khả năng đặc biệt để quên. Ngài quên, Ngài hôn, Ngài ôm ấp, và Ngài chỉ nói, “Ta cũng không kết án ngươi đâu; hãy đi, và từ nay đừng phạm tội nữa.”

 

Khi còn sinh thời, Đức hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận của chúng ta cũng hay nói về 10 khuyết điểm của Chúa Giêsu. Ngài thậm chí còn giảng điều này trong dịp tĩnh tâm Mùa Chay năm 2000 cho Giáo triều Rôma và Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II.

 

Trong các khuyết điểm của Chúa Giêsu, theo Đức hồng y Nguyễn Văn Thuận, thì khuyết điểm đầu tiên là Chúa Giêsu rất kém trí nhớ. Quả vậy, trên thập giá, trong lúc hấp hối, tên trộm thưa với Chúa Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi vào nước của ông, xin hãy nhớ đến tôi.” Và Chúa Giêsu nói ngay với anh: “Ngay hôm nay, ngươi sẽ được ở với Ta trên thiên đàng” (Lc 23, 43). Ngài chẳng nhớ gì đến lý lịch trộm cắp của anh ta. Điều tương tự cũng xẩy ra đối với người đàn bà tội lỗi xức thuốc thơm cho chân Chúa. Chúa Giêsu chẳng hề nhớ đến quá khứ xấu xa của bà. Ngài quên hết và Ngài nói: “Tội của con tuy nhiều, nhưng đều được tha hết vì con đã yêu mến nhiều” (Lc 7, 47).

 

Đúng là tư tưởng lớn gặp nhau, tư tưởng của Đức hồng y Nguyễn Văn Thuận và Đức giáo hoàng Phanxicô. Các ngài cho chúng ta thấy sự kỳ lạ trong tình thương của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu là Thiên Chúa; Ngài biết hết mọi sự. Nhưng nói đến tội lỗi của chúng ta, Ngài rất kém cỏi; Ngài chẳng nhớ gì hết.

 

Đức giáo hoàng Phanxicô đã chọn câu khẩu hiệu giám mục cũng như giáo hoàng của ngài: “Miserando atque eligendo” có nghĩa là “Nhìn qua đôi mắt xót thương, Chúa đã chọn ông.” Câu này nói về thánh Matthêu. Câu này có ý nghĩa đặc biệt đối với ngài bởi vì năm 17 tuổi, ngài đi xưng tội vào lễ thánh Matthêu. Ngài cảm nhận một cách sâu thẳm về lòng xót thương vô bờ bến của Thiên Chúa, và ngài cảm thấy ơn gọi làm linh mục.

 

Chính Đức giáo hoàng là người cảm thấy mình có tội và được Chúa thương.

 

Có một điều ngược đời, như Đức Giáo hoàng nhận xét: Thiên Chúa không bao giờ mỏi mệt tha thứ cho chúng ta – Không bao giờ. Thế nhưng, chính chúng ta là những kẻ mỏi mệt xin Ngài tha thứ.

 

Bởi vậy, nhân loại ngày nay xa lìa Thiên Chúa không phải vì Thiên Chúa không tha thứ cho họ, mà vì họ không cần đến tình thương của Ngài. Chúa vẫn tha thứ, dù cho con người bất chấp tình thương của Ngài.

 

Lòng thương xót của Chúa đã được mạc khải cho thánh Faustina và được Giáo hội công nhận qua chuỗi Lòng thương xót. Chúa đã mặc khải cho thánh Faustina như sau: “Let no sinner be afraid to approach me.” Đừng để bất cứ tội nhân nào sợ hãi đến với Ta.

 

Lòng thương xót của Chúa được thể hiện cụ thể nơi Bí tích Giải tội.

 

Năm 1992, khi vừa được chọn làm giám mục, Đức giáo hoàng đến một đền thánh Đức Mẹ để giải tội. Một cụ bà 80 tuổi nói với ngài: “Nếu Chúa không tha thứ tất cả, thế giới này chẳng thể nào tồn tại được.” Nơi Bí tích giải tội, chúng ta được tha thứ mọi lỗi lầm, được giao hòa lại với Thiên Chúa.

 

Cảm nghiệm được điều này, thánh Augustinô nói: “There is no saint without a past, no sinner without a future.” Không có thánh nhân nào mà không có quá khứ, và không có tội nhân nào mà không có tương lai.

 

Thánh Phaolô thì nói: Tôi chỉ chú ý đến một điều, là quên đi chặng đường đã qua, để lao mình về phía trước. Tôi chạy thẳng tới đích, để chiếm được phần thưởng từ trời cao Thiên Chúa dành cho kẻ được Người kêu gọi trong Đức Giêsu Kitô (Pl 3, 13-15).

 

Trong một lần gặp gỡ các linh mục Rôma, ngày 6/3/2014, Đức giá hoàng đã tiết lộ trong áo giáo hoàng của ngài có túi đựng một cây thánh giá nhỏ. Thánh giá này ngài đã “lấy trộm” của một linh mục thánh thiện đã qua đời. Câu truyện như thế này: Một linh mục rất thánh thiện trong địa phận của ngài, là cha giải tội cho các linh mục trong địa phận và cho cả Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II khi ngài đến thăm Achentina. Khi vị linh mục đó qua đời, Đức giáo hoàng Phanxicô, khi đó còn là Giám mục, đã mua một vòng hoa để đến kính viếng. Và khi thấy trên tay vị linh mục cầm cỗ tràng hạt, Đức giáo hoàng đã ngắt cây thánh giá từ cỗ tràng hạt đó. Ngài cầu nguyện trong lòng với vị linh mục: Xin cha cho con một nửa lòng thương xót của cha.

 

Cây thánh giá này sau đó luôn luôn được ngài mang trong áo giám mục, sau đó là áo giáo hoàng. Ngài tâm sự với các linh mục: Mỗi lần tôi muốn phê phán hay muốn có ác cảm với ai, tôi lấy tay đặt nhẹ lên cây thánh giá đó, và mọi mọi suy nghĩ ác cảm đều tan biến hết.

 

Thiên Chúa giầu lòng xót thương đến mức kỳ lạ. Những người cảm nhận được tình thương của Chúa, những người đó trở thành thánh nhân.

 

Kết luận

Tóm lại, trong bài chia sẻ thứ nhất hôm nay, chúng ta hồi tâm và suy niệm về tình yêu của Chúa Giêsu được thể hiện qua những cách vô cùng kỳ lạ đối với loài người. Chúa Giêsu yêu thương chúng ta được biểu hiện một cách kỳ lạ nơi cái chết của Ngài trên thập giá. Chúa Giêsu yêu thương chúng ta được biểu hiện một cách kỳ lạ nơi sự hiện diện của Ngài trong Bí tích Thánh Thể. Và Chúa Giêsu yêu thương chúng ta bằng một sự tha thứ kỳ lạ nơi Bí tích Giải tội. Những điều kỳ lạ đó chính là những hồng ân của Chúa. Những điều kỳ lạ đó chính là những điều chúng ta nhìn vào để thấy được tình thương của Thiên Chúa. Những điều kỳ lạ đó chính là nền tảng cho sự hoán cải của chúng ta.

 

Trong bài sau, chúng ta sẽ suy gẫm về sự hoán cải. Chúng ta biết mình được Chúa yêu thương, chúng ta phải hoán cải để đáp lại tình thương của Chúa.

 

Phaolô Hoàng

 

BÀI VIẾT CÙNG CHỦ ĐỀ
TIN / BÀI MỚI