NGƯỜI LINH MỤC VINH SƠN VỚI TƯ CÁCH NHÀ TRUYỀN GIÁO (P 2)
Cập nhật: 25/11/2017 18:06

       Một quan điểm thần học đương đại [17]

       Có lẽ những phân tích đương đại có ảnh hưởng nhất về chức linh mục thừa tác được tìm thấy trong các bài viết của Karl Rahner.[18] Quan điểm của Rahner có thể được tổng hợp như sau:

       Vai trò chính yếu của linh mục là công bố lời hữu hiệu đó là những hình thái và những trụ cột cho cộng đoàn Kitô hữu. Linh mục chia sẻ sứ vụ của Chúa Kitô, Đấng được Chúa Cha sai đến để công bố vương quốc của Thiên Chúa. Do đó, linh mục là một đầy tớ của Vương Quốc và của Giáo hội với tư cách là một dấu chỉ của Vương Quốc đó. Một khoảnh khắc cao điểm trong chức vụ của linh mục là cử hành phụng vụ, đặc biệt là Bí Tích Thánh Thể, nơi linh mục tuyên bố một cách hiệu quả, ''này là Mình thầy ... này là Máu thầy'', và chính Chúa hiện diện thực sự trong hình thái bí tích để nuôi dưỡng và củng cố dân người. Rahner tóm kết:[19] ''Lời hữu hiệu này đã được ủy thác cho linh mục, linh mục đã được ban cho Lời của Thiên Chúa. Điều đó làm cho ngài trở thành một linh mục.''

       Khi là một nhà lãnh đạo trong cộng đoàn Kitô hữu, linh mục cũng được kêu gọi để làm chứng nhân mang tính ngôn sứ, sống theo lời Chúa mà linh mục rao giảng, ''bắt chước những gì mà con lãnh nhận'' đến nỗi để ngài phải loan truyền Tin Mừng không chỉ bằng lời nói mà bằng cuộc sống của mình. Theo nghĩa này, chức linh mục Kitô giáo kết hợp các vai trò của ngôn sứ và tư tế trong cựu ước.

       Vai trò của vị linh mục trong việc xây dựng cộng đoàn liên quan đến nhiều chức năng, theo truyền thống được miêu tả là giảng dạy (ngôn sứ, chuyên viên của Lời), cai trị (''vua'', ''chăn chiên'', dành cho lãnh đạo mục tử) và thánh hóa (''linh mục'', dành cho các bí tích và các hình thức cầu nguyện khác).

       Rõ ràng, trong cách tiếp cận của Rahner, việc công bố cho cộng đoàn của Chúa - Lời Chúa là trọng tâm của căn tính linh mục. Các chức năng linh mục truyền thống tuôn chảy từ căn tính này. Điều này rõ ràng nhất có lẽ là trong trường hợp rao giảng và giảng dạy (ngôn sứ). Nhưng tác vụ bí tích cũng vậy (linh mục) là một khía cạnh của vai trò của linh mục là người rao giảng khi linh mục đưa ra lời hữu hiệu của Thiên Chúa để khai sinh những khoảnh khắc quan trọng trong đời sống của các tín hữu. Tương tự, lãnh đạo mục tử (vua) bao gồm việc phân biệt những gì Lời Chúa nói trong những hoàn cảnh cụ thể của đời sống cộng đoàn và sau đó áp dụng nó qua các quyết định.

       Chức linh mục thừa tác đối với thánh Vinh Sơn [20]

       Thánh Vinh Sơn bị ảnh hưởng rất nhiều bởi các khuôn mẫu tư duy và từ vựng của những người đương thời và các thầy dạy của mình. Bérulle, người mà Vinh Sơn đã nợ rất nhiều nhưng từ vị này, người đã tập trung phần lớn tinh thần của mình vào chức linh mục, mà cuối cùng ngài đã xa cách. Trong các đàm luận và thư của Vinh Sơn,[21] chúng ta tìm thấy nhiều cụm từ và điểm nhấn tương tự như chúng ta đã khám phá trong các bài viết của Bérulle, Olier và John Eudes. Các vị này nói trên hết cả mọi thứ đó là sự quy tâm vào Chúa Kitô và sự cần thiết cho linh mục để làm  rỗng chính mình và ''mặc lấy Chúa Giêsu Kitô.''[22]. Các ngài khuyến khích các linh mục có ''nghĩa vụ hướng đến Thiên Chúa.'' [23]Họ rất ý thức về vai trò ''cao quý'' của chức linh mục và sự cần thiết cho các linh mục là phải thánh thiện.[24]

       Vinh Sơn tham gia những điều này cùng những nhà lãnh đạo khác trong thời kỳ cải cách của hàng giáo sỹ, trở thành một trong những người đề xướng chính yếu của phong trào này. Như trong trường hợp của ngài, quan điểm của ngài về chức linh mục, trong khi chịu ảnh hưởng của các vị thầy, thì độc lập với các vị ấy, nhất là khi cha hình dung chức linh mục trong tu hội mà ngài đã thành lập.

       Đối với Vinh Sơn, trong những năm trưởng thành của mình, Chúa Giêsu linh mục là Đấng rao giảng Tin Mừng cho người nghèo hơn cả trong số các nhà truyền giáo của Chúa Cha. Ngài biết rằng đã có những linh mục học giả vĩ đại như Thánh Jerome, Alberto  Cả, và Thomas Aquinas, và rằng có các linh mục ẩn cư nổi bật như Ambrose, Basil và Chrysostom, có những linh mục tu sĩ có ảnh hưởng như Benedicto và cải cách linh mục giáo phận như Bellarmine, rằng có những linh mục đường phố nhiệt thành như Philip Neri, và rằng trong thời của ngài có những linh mục giáo sư tuyệt vời, đặc biệt trong số các linh mục Dòng Tên. Tất cả những điều này đều được đưa vào các khuôn mẫu tư duy của cha, nhưng cha đã chọn để tập trung vào một mô hình khác: linh mục là nhà truyền giáo.[25]

       Tuy nhiên, Thánh Vinh Sơn đã viết rất ít về chức linh mục. Ngài cũng không nói về nó một cách có hệ thống theo cách thần học. Quan điểm của ngài thực tế phần lớn là, như là năng khiếu của mình. Trong khi một phần cha chia sẻ nhãn quan của những người ảnh hưởng nhất đến cha, đặc biệt là Bérulle, quan điểm của cha dần dần phát triển khác biệt với các vị này. Chúng ta có thể tóm kết giáo huấn của ngài dưới bốn đề mục.

       Cha Vinh Sơn rất khủng hoảng về chức linh mục khi ngài  thực sự đã thấy điều này vào đầu thế kỷ 17 ở Pháp.

       Một số lớn các linh mục mà Vinh Sơn gặp là ngu dốt. Cuộc sống của họ không có kỷ luật và thối nát. Nhiều giám mục đã chỉ biết quan tâm đến mình và ít quan tâm đến đàn chiên. Như một linh mục đã nói với ngài vào năm 1642, ''điều tai tiếng nhất là điều mạnh nhất, và thịt và máu đã thay thế cho Phúc âm và tinh thần của Chúa Giêsu Kitô.'' [26] Vinh Sơn tin rằng các linh mục và giám mục là nguyên nhân chính gây ra những tệ nạn trong Giáo Hội.[27]Ngài trích dẫn lời thánh  John Chrysostom khi nói rằng ít linh mục sẽ được cứu.[28]

       Tất nhiên, Vinh Sơn đã ý thức được rằng bản thân ngài đã không được miễn trừ khỏi sự cám dỗ để đạt được chức linh mục như một nghề nghiệp sung túc. Ngài được thụ phong vào năm 19 tuổi với mục tiêu đó trong đầu. Nhưng ngài đã trải qua một cuộc hoán cải đáng chú ý với  một chuỗi các sự kiện đã thanh tẩy quan điểm của ngài về chức linh mục. Tôi sẽ không kể lại những sự kiện ở đây vì chúng đã được người đọc biết đến và những người khác đã làm cả hai điều như vậy thường xuyên và đúng lúc.[29]

       Cha đã nhìn nhận thấy chức linh mục như một ơn gọi cao quý mà cha không xứng đáng. Ngài đã viết năm 1656: ''địa vị này là cao trọng nhất trên thế gian, chính vì Chúa chúng ta mà chúng ta đã được chấp nhận và bước theo. Đối với bản thân mình, nếu tôi đã  biết nó là gì khi tôi liều lĩnh bước vào địa vị đó - như tôi đã biết từ đó - tôi sẽ thích đất đai hơn là tự cam kết với một trạng thái khủng khiếp như vậy trong cuộc sống -  điều chắc chắn, các linh mục ngày nay có lý do đúng đắn để lo sợ sự xét xử của Thiên Chúa, vì, ngoài tội lỗi của họ, họ còn phải chịu trách nhiệm về Dân Chúa vì họ đã không cố gắng làm hài lòng cơn giận của Thiên Chúa đối với dân, điều  buộc họ phải làm. Điều tồi tệ hơn, Ngài sẽ quy cho những linh mục đó là nguyên nhân của những lời trừng phạt Ngài gửi đến cho họ .... Hãy để chúng ta đi xa hơn và nói rằng tất cả những rối loạn đã gây đau buồn cho hiền thê thánh thiện của Đấng Cứu Thế phát sinh  từ cuộc sống xấu xa của linh mục ....''[30].

       Trong buổi đàm luận vào ngày 6 tháng 12 năm 1658, Vinh Sơn  kêu lên: ''Không có gì cao trọng hơn linh mục, người mà Thiên Chúa ban cho mọi quyền trên  thân thể tự nhiên và mầu nhiệm của mình, quyền tha tội, vâng, Thiên Chúa, quyền năng biết bao!ôi, phẩm giá biết bao!''[31]

      Linh mục, bởi đặc tính của mình, tham gia vào chức linh mục của Chúa Giêsu.[32] Vị ấy là một  khí cụ.

       Trong một buổi đàm luận về phẩm trật hàng giáo sĩ, Vinh Sơn tuyên bố rằng đặc tính của các linh mục là sự tham gia vào chức linh mục của Con Thiên Chúa. Đó là một đặc tính hoàn toàn thần thiêng và không gì sánh nổi[33].

       Trong việc lặp lại điểm này thường xuyên, Thánh Vinh Sơn đứng trong dòng chảy chính yếu của toàn bộ truyền thống Kitô giáo. Chúa Giêsu là linh mục. Tất cả các linh mục khác chia sẻ chức linh mục của Chúa Giêsu. Họ là khí cụ của Ngài.[34] Nguyên tắc thần học này đã làm cho Thánh Vinh Sơn cảm thấy sợ hãi của phẩm giá chức linh mục.[35] Nó dẫn đến việc ngài đã nói lên một trăm lần (chính ngài tuyên bố rằng!) [36]Rằng nếu ngài chưa phải là linh mục, thì ngài sẽ không bao giờ dám bước đến điều này.

       Bằng ngôn ngữ gợi nhớ lại Bérulle và Olier, Vinh Sơn viết thư cho một linh mục của Tu Hội: Ôi! Cha may mắn như thế nào để trở thành khí cụ của Chúa chúng ta trong việc thiết lập các linh mục tốt lành và để là một khí cụ giống như cha, người thắp sáng và đốt nóng chức này cùng một lúc! Trong đó, cha làm công việc của Chúa Thánh Thần, Đấng một mình thắp sáng và đốt nóng những con tim, hay đúng hơn, sự thánh thiện  và Thánh thần thánh hóa những việc làm qua cha, vì  người cư ngụ và hoạt động trong cha. Người làm như vậy, không chỉ để cha sống cuộc sống thần linh của người, mà còn để thiết lập cuộc sống tương tự như người và làm việc trong những người này, được gọi vào chức vụ cao cả nhất trên thế gian, qua đó họ phải thực hiện hai đức tính vĩ đại của Chúa Giêsu Kitô, cụ thể là sự tôn kính đối với cha của ngài [37] và lòng bác ái đối với nhân loại.[38]

       Tất nhiên, vì cuộc đời và sứ mệnh của linh mục gắn liền với bản chất nội tại của Chúa Giêsu , ''đặt vào Đức Giêsu Kitô'' có nghĩa là, bằng cách cụ thể, có được đức tính  của Chúa Giêsu, đặc biệt là năm đức tính truyền giáo mà Vinh Sơn đã  kêu gọi các thành viên Tu Hội Truyền Giáo. Điều này cũng có nghĩa là đứng trước mặt Chúa Cha một cách trung tín trong lời cầu nguyện và lắng nghe Lời Người. Vinh Sơn nói với William Desdames vào ngày 30 tháng 1 năm 1660 rằng: ''cha sẽ tìm thấy trong Chúa Kitô tất cả các nhân đức và nếu cha để Ngài làm điều đó, Ngài sẽ thi hành chúng trong cha và cho cha.''[39]

       Khuôn mẫu trổi vượt của chức linh mục là nhà truyền giáo.[40]

       Khá độc lập với giáo lý của Bérulle, vị thầy cũ của mình, Vinh Sơn đã đưa ra một sự lựa chọn rõ ràng về mô hình chức linh mục của mình: linh mục đối với ngài chính yếu là một nhà truyền giáo: ''Thiên chúa đã sai các linh mục ra đi như ngài đã sai Con của Ngài đến cứu độ các linh hồn.''[41] rõ ràng là Vinh Sơn tập trung vào ''tông đồ'' hoặc mô hình truyền giáo mà Raymond Brown miêu tả nổi bật trong Tân Ước: thưa những người anh em của tôi,  Chúa Giêsu là người nói nhà truyền giáo cũng như muốn nói tông đồ. Vì thế, chúng ta phải hành động giống như các tông đồ, vì chúng ta được sai đi, như các ngài, để hướng dẫn dân chúng. Chúng ta phải tiến hành với sự dịu hiền, và đơn sơ, nếu chúng ta muốn trở thành những nhà truyền giáo và bắt chước các tông đồ và Chúa Giêsu Kitô.[42]

       Luigi Mezzadri đặt vấn đề một cách ngắn gọn: ''Giữa quan niệm của phái pseudo-Dyonisian về linh mục như 'con người của việc thờ phượng' và quan niệm của Augustinô thì linh mục là [43] 'con người cho sứ vụ', theo lẽ thường Vinh Sơn chọn cái thứ hai.''

       Vinh Sơn trở lại chủ đề này lập đi lập lại:

       Điều này cho thấy như thế nào là các tâm hồn tông đồ thực sự nào nói và hành động. Hoàn toàn được dâng hiến cho Thiên Chúa, họ mong muốn Con của Thiên Chúa, Chúa của chúng ta  được biết đến đến và được phục vụ giống nhau bởi tất cả các dân tộc trên trái đất, vì Ngài đã đến với thế gian; giống như Ngài, họ cũng muốn làm việc và chết cho thế gian. Đó là như thế nào sự nhiệt huyết của nhà truyền giáo được kéo dài, để, thậm chí dù họ không thể đi khắp mọi nơi, cũng như không thể làm điều tốt mà họ mong muốn, họ vẫn làm tốt ước muốn này và để dâng chính bản thân họ lên Thiên Chúa để phục vụ Ngài như là khí cụ để hoán cải các linh hồn[44]

       4. Linh mục truyền giáo là cho người nghèo.

       Toàn bộ đời sống của linh mục truyền giáo phải được dành cho người nghèo. Thánh Vinh sơn đã tuyên bố điều này rất hùng hồn:

       Các linh mục chính bản thân họ phải nhiệt thành chăm sóc người nghèo - không phải là phận vụ của Chúa chúng ta và của một số thánh nhân vĩ đại, những người không chỉ khuyên người nghèo đến với những người khác mà còn an ủi, khuyên giải và tchữa lành chính bản thân của họ. Không phải những người nghèo khổ không phải là những thành viên đau khổ của Chúa chúng ta hay sao? Hay họ không phải là anh em của chúng ta hay sao? Và nếu các linh mục bỏ rơi họ người mà bạn nghĩ rằng sẽ giúp họ thì sao? Vì vậy, nếu có một số người nghĩ rằng họ là thành viên của Tu Hội để đem Tin Mừng cho người nghèo và không để giúp đỡ họ, để giải quyết các nhu cầu tinh thần của họ chứ không phải là các nhu cầu thế gian, tôi xin đáp lại rằng chúng ta phải giúp họ bằng mọi cách.[45]

       Vinh Sơn đề nghị một thực hành, cụ thể, bác ái mục tử, và mong muốn tìm kiếm những người nghèo nhất của người nghèo ở bất cứ nơi nào họ có thể: Để làm cho Thiên Chúa được người nghèo biết đến, để loan báo Chúa Giêsu Kitô cho họ, để nói với họ rằng Nước Thiên Chúa đã gần đến và dành cho họ. Ôi!  Điều đó thật tuyệt vời.[46]

       Vinh Sơn nhấn mạnh:

      Một người Có thể hỏi Con Thiên Chúa: ''Tại sao Ngài lại đến đây?'' Đó là để rao giảng Tin Mừng cho người nghèo. Đó là ý muốn của Chúa Cha ... Có thể nói rằng khi đến để rao giảng Tin Mừng cho người nghèo, chúng ta không chỉ muốn cho ơn cứu độ của họ mà còn để hoàn thành những điều đó được dự đoán và hình dung trước bởi các vị ngôn sứ để làm cho Tin Mừng hiệu quả một cách cụ thể.[47]...(còn tiếp...)

Cha Robert P. Maloney, C.M

PMT chuyển ngữ từ cmglobal.org

Ghi Chú

 

[18]X. Karl Rahner, những tôi tớ của Chúa (New York: Herder và Herder, 1968); "Hiểu biết chức linh mục", trong Theological Investigations XXII (New York: Crossword, 1991) 208-213 ..

[19]Karl Rahner, "linh mục và thơ ca", trong những nghiên cứu thần học, III chuyển ngữ bởi Karl-H. Kruger và Boniface Kruger (New York: Helicon, 1967) 303.

 [20]Người đọc có thể tham khảo : D'Agnel, thánh Vinh Sơn Phaolô hướng dẫn các linh mục, 1928; J. Delarue, L'Idéal missionnaire du prêtre d'après saint Vincent de Paul,, 1946; L. Mezzadri, "La espiritualidad sacerdotal," Anales (1983) 627; L. Mezzadri” Chúa Giêsu Kitô, hình ảnh của các nhà truyền giáo ," Vincentiana (1986) 323; E. Motte, San Vicente de Paul y El Sacerdocio, 1915; L. Nuovo, "Sacerdocio", Diccionario de Espiritualidad Vicenciana (Salamanca: CEME, 1995) 550-552; J. B. Rouanet, San Vicente de Paúl, sacerdote instrumento de Jesucristo, 1960; C. Sens, "Comme prêtre missionnaire", Au temps de St. Vincent de Paul… et aujourd’hui…,..., 1981; R. Facélina, "ơn gọi và sứ mạng của linh mục theo Thánh Vinh Sơn Phaolô" trong Vincentiana (2000) 218-227.

[21]René Deville, "L'École française de spiritualité" (Paris: Desclée, 1987) 112. X. Michel Dupuy, Bérulle et le sacerdoce. Étude lịch sử và nguyên lý. Văn bản inédits (Paris: Lethielleux, 1969).

[22]Rom 13:14.

 [23]X. J.-J. Olier, Introduction à la vie et aux virtus chrétiens, (ấn bản Amiot, 1954) 7-9. Từ này rất khó dịch. Nó có nghĩa là, về cơ bản, có mối quan hệ giao ước với Thiên Chúa trong một bối cảnh của Giáo hội.

[24]Bérulle, với sự phóng đại đáng kể, mô tả mất đi thánh thiện nơi các linh mục theo cách này: "Các linh mục đầu tiên thực sự là thánh và tiến sĩ của Giáo Hội. Thiên Chúa được mô tả tiêng biệt  trong cùng một trật tự, quyền năng, sự thánh thiện và giáo lý kết hợp cả ba thành tựu đó vào trong chức  linh mục .... Tuy nhiên, thời gian làm hư hỏng tất cả mọi thứ, dẫn đến tình trạng mất trật tự trong hầu hết hàng giáo sĩ. Ba phẩm chất: quyền hành, sự thánh thiện và giáo lý, mà Thánh Linh đã liên kết với nhau, đã bị chia cắt bởi tinh thần con người và tinh thần của thế giới. Thẩm quyền vẫn còn trong các giám mục, thánh thiện trong tu sĩ và giáo lý trong các trường học. Xem " một lá Thư về Chức linh mục," trích dẫn ở Bérulle và Trường học Pháp, các Tác Phẩm đã chọn được biên tập với sự giới thiệu của William M. Thompson (New York: Paulist Press, 1989) 184.

[25]Xem. SV XII, 262: "Tất cả đều hướng đến việc yêu mến Ngài, nhưng họ yêu mến Ngài theo những cách khác nhau: các tu sĩ Carthusian bởi sự cô tịch, các tu sĩ capuchino bởi nghèo khó; những người khác lại bằng cách hát những lời khen ngợi Chúa. Nhưng chúng ta, thưa anh em của tôi, nếu chúng ta có tình yêu này, có nghĩa vụ để hiển thị nó bằng cách dẫn dắt mọi người yêu mến Thiên Chúa và người lân cận của họ .... "

 [26]SV II, 282.

[27]SV XI, 308-309.

[28]SV VII, 463.

 [29]Như Dodin, Román, Mezzadri, và nhiều người khác chỉ ra, người ta không thể hoàn toàn hiểu được quan điểm của Vinh Sơn về chức linh mục (và nhiều điều khác trong cuộc đời của ngài) , không hiểu hết những chuỗi sự kiện dẫn đến việc hoán cải, Cf., André Dodin,. Thánh Vinh Sơn và lòng bác ái (Paris Editions du Seuil, 1960) 11-25; Luigi Mezzadri, "“Jesus-Christ, figure du Prêtre-Missionnaire, dans l'œuvre de Monsieur Vincent,” " trong Vincentiana từ 3-4 tháng 5 năm 1986, 326-330; José María Román, "Hành trình linh mục của Thánh Vinh Sơn Phaolô, những  khởi đầu: 1600-1612 "ở Vincentiana số 3 (Tháng 5-6) 2000, 207-217.

[30]SV V, 568.

[31]SV XII, 85.

[32]SV XI, 7, 344.

[33]SV XI, 7.

[34]SV XII, 80.

[35]SV VII, 463; XI, 93.

[36]SV VII, 463.

[37]Trong tiếng Pháp, la religion vers son Père et la charité vers les hommes. Thuật ngữ này rất đặc trưng của "École Française". Olier, Pietas, n. 4 (Editions Amiot, 1954) 165, nơi gần như chính xác cùng một từ được sử dụng.

[38]SV VI, 393.

[39]SV VIII, 231.

[40]SV XI, 67.

[41]SV VIII, 33.

[42]SV XI, 267.

[43]Luigi Mezzadri,op. cit., 348; cf. also, “La conversione di S. Vincenzo de' Paoli. Realtà storica e proiezione attuale,” in Annali della Missione 84 (1977) 176-182.

 [44]SV VII, 333.

[45]SV XII, 87; cf. XI, 202, 391; XII, 84.

[46]SV XII, 80.

[47]SV XII, 84.

 

BÀI VIẾT CÙNG CHỦ ĐỀ
TIN / BÀI MỚI