HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI CỦA LINH ĐẠO VINH SƠN
Cập nhật: 08/05/2017 07:41

Tác giả: Cha JAIME CORERA, C.M.

(Phần I)

           Tôi muốn nói một lời về những giai điệu đầy tham vọng của tiêu đề và xin trình bày rõ ràng những giới hạn của bài viết này. Về quá khứ, tôi không ở trong một vị trí để biết toàn bộ nền tảng của những gì được gọi là "linh đạo Vinh Sơn" (không như trong kinh nghiệm thực thụ của Vinh Sơn cũng không phải trong sự phát triển của điều đó đến nay), cũng không phải tôi có thể miêu tả điều này cách sâu xa đầy đủ nhất. Về tương lai, tôi đã bị thuyết phục bởi một nghiên cứu xã hội học mà tôi đọc được một năm trước đây nói rằng sự dự báo các sự kiện trong tương lai là không có ý nghĩa thực tiễn và thật ra không mang ý nghĩa.

Kiến thức về quá khứ chắc chắn là có thể, nhưng nó thì là mong manh, từng phần và đã được định nghĩa chắc chắn bởi cá nhân của tác giả. Vì vậy, tôi thừa nhận ngay từ đầu rằng mô tả của tôi về lịch sử của linh đạo Vinh sơn, đối tượng của nghiên cứu này sẽ có tính chọn lọc cao và rất nhiều những tổng hợp của riêng tôi. Những gì tôi nói về tương lai không có ý định nói trước bất cứ điều gì. Nó chỉ là để chỉ ra một số chủ đề mà dường như thiết yếu để linh đạo Vinh sơn có thể có một tương lai đầy ý nghĩa và dễ hiểu.

Hãy để tôi đưa ra một nhận xét giới thiệu cuối cùng. Thuật ngữ "tinh thần" hay "linh đạo", áp dụng cho cá nhân của Thánh Vinh Sơn và sự ảnh hưởng của ngài trong lịch sử, xuất hiện đến với tôi là một kiểu đã được sáng chế đối với một số ngữ cảnh khác nhau và không phù hợp cho lắm ở đây. Tôi thích sử dụng các từ ngữ như kinh nghiệm của Thánh Vinh Sơn, hoặc kinh nghiệm Kitô giáo của Thánh Vinh Sơn, hoặc có lẽ nhãn quan Kitô giáo của Thánh Vinh Sơn, những diễn giải này truyền tải tốt nhất ý nghĩa trong bối cảnh.

1. Kinh Nghiệm Ban Đầu

Thông tin đáng tin cậy về cuộc đời của Thánh Vinh Sơn chỉ ra một mối quan tâm cá vị rõ ràng đối với người nghèo trước năm 1617, khi ngài 37 tuổi. Thêm vào dữ liệu mà Abelly cho chúng ta biết về thời thơ ấu của ngài (1. I, c.2), Ngài đã có kinh nghiệm của một hội ái hữu tại Bệnh viện Bác Ái trong thời gian ở lần thứ hai tại Rome (XIII b, 9), Ngài đã thường xuyên viếng thăm bệnh viện Bác Ái tại Paris (Abelly, 1, III, c. XI, sec I), Ngài đã làm một cuộc quyên góp với 15.000 Livres năm 1611 cho bệnh viện, mặc dù có vẻ như từ tất cả các thông tin chúng ta có được về Vinh Sơn chỉ là một sự trung gian ( XIII a, 20-22), và Ngài đã dạy giáo lý cho các gia nhân trong gia đình Gondi và cho nông dân trên lãnh địa của họ (XIII, 31 ff).

Đây là những sự kiện đáng tin cậy, nhưng không có điều gì hỗ trợ về hình ảnh về một người có đức tin sâu sắc, người mà từ những ngày đầu của ngài muốn hướng cuộc sống của mình hơn cho người nghèo (như Abelly muốn chúng ta tin). Những người viết tiểu sử trong các giai đoạn khác nhau của lịch sử thường vẽ cùng một loại hình ảnh của trẻ em Kitô giáo và các linh mục trẻ trung đầy nhiệt huyết và hứa hẹn.

Các tác giả viết tiểu sử khác nhau về quá trình mà Vinh Sơn Phaolô đã được hoán cải từ việc thờ ơ và ích kỷ trong những năm đầu đời linh mục, nhưng thực tế tất cả các tác giả viết tiểu sử của Thánh Vinh sơn cũng như các sinh viên chuyên về linh đạo của Ngài đồng ý về hai điểm. Đầu tiên, đó là ngày tháng. Năm 1617 đánh dấu thời điểm quyết định cho một sự thay đổi căn bản trong phương hướng cuộc đời của ngài, bắt nguồn từ những kinh nghiệm ở Folleville và Chatillon. Thứ hai, hướng thay đổi dẫn đến một sự cống hiến hoàn toàn bản thân và chức linh mục của ngài để rao giảng Tin Mừng cho người nghèo.

Ai là những người nghèo? Đầu tiên, họ là nông dân nghèo, một số sau đó là những nô lệ chiến thuyền. Nhưng trôi qua một số năm, và có phần tốt vì ảnh hưởng của các Nữ Tử Bác Ái và các bà Bác Ái, tất cả các loại của người dân nghèo bao gồm: người bệnh tâm thần, người bệnh trong các bệnh viện công, trẻ em bị bỏ rơi, những người nô lệ, những người nhập cư từ trong và ngoài nước, những người lính đánh thuê, thợ thủ công và người lao động lớn tuổi không có việc làm hoặc trợ cấp hưu trí, người ăn xin, người tị nạn và nạn nhân của chiến tranh, giáo dân công giáo nông thôn bị bắt bớ (từ Ireland, Scotland và quần đảo Anh) và người bản địa Madagascar.

Cũng có những người nghèo khác ở Pháp vào thời điểm này, người không giàu có dưới bất kỳ hình thức nào và không thuộc về những gì mà chúng ta gọi là tầng lớp trung lưu, không cao cũng không thấp, ví dụ thợ thủ công, những người mà Thánh Vinh Sơn cũng như những người đàn ông và đàn bà được cảm hứng bởi thánh Vinh Sơn, không bao giờ coi đây là là mục tiêu của sự cống hiến và nỗ lực của Ngài. Trái lại, sự nghèo khó của những người đã được giúp bởi Thánh Vinh Sơn và các tổ chức của Ngài, có một đặc điểm chung, một đặc điểm mà ngày nay thích hợp hơn mà chúng ta gọi là ngoài rìa, một ý tưởng rất gần với những gì Thánh Louise đã diễn tả: "người nghèo là người thiếu mọi thứ". Dĩ nhiên, việc hoán cải của Thánh Vinh Sơn Phaolô để rao giảng Tin Mừng cho người nghèo,  hoàn toàn là một kinh nghiệm đức tin, mà cá nhân ngài đã sống từ 1618 đến 1625 với việc giảng đại phúc trên phần đất nhà Gondi với sự giúp đỡ của các bạn Ngài một cách thường xuyên.

Tuy nhiên, Ngài đã sớm khám phá ra, thông qua các đề xuất và ảnh hưởng của bà de Gondi, đó là một công việc lâu dài của việc rao giảng Tin Mừng cho người nghèo không thể được thực hiện mà không được tổ chức ổn định, xây dựng trên những nền tảng tốt. Khám phá này đã được thể hiện trong việc thành lập Tu hội Truyền giáo (1625-1626), Tu hội Nữ Tử Bác Ái (1633), và các bà Bác Ái (1634), và các tổ chức khác được tổ chức lỏng lẻo hơn, được lập tạo ra từ các tình huống cụ thể (Macon, các tổ chức trợ giúp cho cuộc chiến ở Lorraine, Picardie và Paris).

Sự biến đổi trong phạm vi công việc của Vinh Sơn là rất thú vị. Nhãn quan của Ngài vào lúc bắt đầu đã tập trung vào các thị trấn nhỏ gần Paris và sau đó đã lan khắp vương quốc của Pháp, và kết thúc bằng cách tham gia vào các khía cạnh quốc tế. Lời khuyên và ảnh hưởng của Bộ Truyền Bá Đức Tin đóng một vai trò quan trọng (III, 163-65). Thánh Vinh Sơn tin rằng Ngài đã bắt buộc phải đáp trả một cách khẳng khái cho chính những yêu cầu đó, như là hoàn cảnh trong tất cả các công việc của Ngài, bởi vì Ngài đã được gọi là "để đáp trả lại ý muốn của Thiên Chúa" (ibid).

Thêm vào đó, một trong những lý do cho việc gửi những người theo Ngài đến những biên giới xa nhất của Châu Âu là một nỗi lo sợ rằng Thiên Chúa loại bỏ đức tin khỏi châu Âu "bởi vì do lỗi của những hành vi sai trái của chúng ta" (III, 187-89). Nhãn quan mới của một lối tiếp cận phổ quát thì trong sự hòa hợp hoàn toàn với trực giác chính yếu và ban đầu của linh đạo của ngài. Thực tế, tại thời điểm đó, giống như ngày hôm nay, đám đông người nghèo bên ngoài, bên trong Châu âu sai lạc.

Sự hoán cải của Thánh Vinh Sơn ảnh hưởng đến cả các chiều kích tâm lý và tình cảm của cá nhân Ngài. Nhưng nó cũng đã ảnh hưởng sâu sắc đến thần học của Ngài, mối tương quan của Ngài với Thiên Chúa trong lý thuyết và thực tiễn. Trước cuộc hoán cải của Vinh Sơn dành cho người nghèo, Berulle đã là là vị thầy của ngài trong sự tháo gỡ khỏi nhãn quan Thiên Chúa quy tâm luận của lòng mộ đạo thời trẻ và việc học của Ngài tại Toulouse, để định hướng cho Ngài về một  nhãn quan Kitô giáo Kitô quy tâm luận thuần túy (xin vui lòng tha thứ cho chi tiết thừa này, nhưng nó là hữu ích ở đây). Điều này có nghĩa rằng nhãn quan của Ngài về đức tin đã vượt khỏi từ việc có một thần – luận (mà tất cả các tôn giáo đều có) để trở thành một Kitô luận (mà chỉ Thiên Chúa giáo có và đây là những gì chính xác phân biệt nó với các tôn giáo khác).

Tuy nhiên, trong trường hợp của Vinh Sơn nhãn quan Kitô học của ngài được lấy làm trung tâm, không phải ngôi Lời Nhập thể được tôn vinh bên hữu Chúa Cha như nhãn quan của Berulle, nhưng Chúa Giêsu thành Nazareth, được sinh ra bởi Đức Maria, là Đấng rao giảng Tin Mừng của người dân quê của xứ Galilê người mà đã chết trên thập tự giá. Đức Kitô phục sinh và vinh quang đối với Ngài không chút nghi ngờ, đối tượng của tình yêu tôn thờ và niềm tin.

Nhưng để dấn thân chính mình để tiếp tục sứ mạng của Chúa Kitô và theo bước chân của Chúa Kitô, ngài đã không có một khuôn mẫu nào tốt hơn với việc Thiên Chúa hóa thành nhục thể và tham gia vào sự tồn tại của lịch sử, Người đã trở thành quà tặng cho trần gian thông qua việc nhập thể của mình, và Người đã kết thúc cuộc đời lịch sử của mình trên thập tự giá. Vinh Sơn đã nói "Để là một Nữ Tử Bác Ái thực sự thì cần làm những gì Con Thiên Chúa đã làm trên trái đất." (IX, 14). Và với những nhà truyền giáo: "Tu hội chúng ta đã luôn làm chính những gì Chúa chúng ta đã làm trên trái đất." (XI, 323).

Nhãn quan Giáo hội học của Ngài cũng đã phải trải qua sự xem xét lại cách triệt để trong ánh sáng của những nhu cầu cấp bách của ơn gọi mới của ngài.Thời trẻ của Vinh Sơn đã trung thành với huấn giáo Giáo Hội học nổi lên từ công đồng Trentô. Nhưng Giáo hội học này thì tập trung, với một mức độ lớn trong phản ứng đối với những người Tin Lành về các khía cạnh của hiến pháp nội bộ của Giáo Hội và bỏ qua chiều kích truyền giáo của mình. Nhưng điều này thì chính là khía cạnh quyết định cho Vinh Sơn tập trung kinh nghiệm đức tin cá nhân của Ngài vào việc truyền giáo cho dân chúng nghèo nông thôn, người mà mặc dù được rửa tội, nhưng được hướng dẫn rất ít trong đức tin, không kém gì việc truyền giáo cho những người đã không nghe bất kỳ ai nói về Chúa Kitô.

Trong các tài liệu tín lý của Trentô, hình ảnh của các linh mục đã được định nghĩa trên hết như là một con người của việc thờ phượng, một thừa tác viên của Thánh Thể. Mặc dù các tài liệu về cải cách của đời sống của các giáo sĩ thực sự đã tính đến chiều kích mục vụ của các linh mục Công Giáo, nói chung "... những gì gợi lên  từ công đồng là một hình ảnh của một linh mục như là một con người của thánh liêng, để riêng ra, quan tâm về con người trong tương quan với Thiên Chúa hơn là về sự sinh động hóa đời sống chung của Giáo Hội". Nói cách khác, nó là một tầm nhìn quy thần luận cách rõ ràng về chức linh mục, rõ ràng lấy Thiên Chúa làm trung tâm. Nhãn quan này của Giáo Hội, một nhãn quan mà kéo dài từ Trento cho đến Vatican II, thì rõ ràng là một nhãn quan phẩm trật giáo sĩ, trong đó người giáo dân là những thành phần thụ động tiếp nhận ân sủng và các bí tích.

Tuy nhiên, để bắt chước Chúa Giêsu Kitô, để tiếp tục sứ mệnh của ngài trong lịch sử, "để làm những gì Con Thiên Chúa đã làm trên trái đất" (để nuôi những người đói, để dạy cho những người không biết chữ, để chữa bệnh, để trừ 'ma quỷ'; tóm lại, để rao giảng Tin Mừng cho người nghèo bằng lời nói và việc làm) và để mang lại sự hoàn thành tốt nhất các nhiệm vụ đó và bắt trước đó–tất cả những điều này là những gì được yêu cầu chỉ là phép rửa tội. Thánh Vinh Sơn nói với các Nữ Tử Bác Ái: "Bất cứ ai muốn vun trồng một sự tương đồng về cuộc đời của Chúa Giêsu Kitô có thể nhìn thấy điều này trong cuộc đời của một Nữ Tử Bác Ái. Những gì người đã làm? Người đến để giảng dạy, để giải thoát. Đó là những gì bạn làm "(IX, 466). Tóm lại: để kéo dài sứ mệnh của Chúa Kitô trong lịch sử, nó không nhất thiết là trở thành thành viên của các giáo sĩ (mặt khác, là một thành viên của giáo sĩ không phải không có một trở ngại cho sứ mệnh giống như thế).

Cũng không phải nhất thiết là một tu sĩ. Hơn thế nữa, thánh Vinh Sơn sẽ gặp phải (trong thực tế đã gặp) những khó khăn không thể vượt qua từ các cấu trúc tu sĩ trong thời đại của ngài trong nỗ lực để mang lại hoa trái trong cách thức sống trong đức tin, con đường tâm linh của mình. Tất cả các hiệp hội của ngài không loại trừ tính cách trần thế, đứng đối diện với các thể chế tu sĩ. Và hầu hết tất cả trong số họ là tính trần thế trong sự tương phản với hàng giáo sĩ. Ngoại lệ duy nhất trong nghĩa thứ hai này là Tu hội Truyền giáo, nhưng chỉ một phần, vì có những tu huynh không phải là giáo sĩ. Tuy nhiên, cũng nằm trong số các thành viên giáo sĩ của Tu Hội truyền giáo chiều kích truyền giáo phải chi phối (điều mà Tu hội Truyền giáo đã được tạo ra) vượt trên khía cạnh giáo sĩ. Là các giáo sĩ trong ý nghĩa đầy đủ theo tâm ước của Trentô, thì không nhất thiết thiết lập Tu hội Truyền giáo. Cho mục đích đó, hội dòng Oratory của Berulle đã được thành lập 15 năm trước đây rồi.

Nó không chỉ là trên mức độ thần học mà linh đạo của Thánh Vinh Sơn đoán trừng trước những cơ hội và quan điểm mới vượt ra khỏi đề cương giáo hội học của công đồng Trentô. Linh đạo này cũng đoán trừng trước những cơ hội mới trong các lĩnh vực xã hội học và lịch sử. Tất cả các hoạt động của ngài bao hàm một sự đoạn tuyệt trên các cấp độ khác nhau của sự liên kết giữa hình thái ngai tòa và bàn thờ của chế độ phong kiến. Như một ví dụ theo tiếng gọi của tâm trí, thái độ của ngài đối với chính con người mình không chấp nhận những bổng lộc giáo hội hoặc sự khó chịu dữ dội mà ngài cảm thấy trước và trong khi sự tham gia trong Hội đồng lương tâm, sự hóa thân rõ ràng nhất của liên minh nói đến. Đối với Thánh Vinh Sơn, cũng như đệ tử Bossuet của ngài, Giáo Hội cần phải là, trên tất cả, không phải là Giáo Hội của các vị vua chúa và người giàu nhưng Giáo Hội của người nghèo.

 

Tóm lại: khi Thánh Vinh Sơn mất vào năm 1660, ngài đã để lại cho hậu thế một kinh nghiệm của đức tin, một lối linh đạo mới và phong phú, được xây dựng tiệm tiến trên cơ sở những kinh nghiệm ở Folleville và Chatillon. Một số chủ đề quan trọng nhất của ngài như sau:

Ở cấp độ cá nhân

Từ bỏ của một nhãn quan quy ngã vị của đức tin và đời sống.

Hoán cải-dâng hiến cho người nghèo, với một mong muốn rõ ràng để gặp gỡ những người bị thiệt thòi bởi xã hội và Giáo Hội trong mọi phần của thế giới.

Làm việc cho người nghèo trong việc thiết lập các tổ chức, trong các cộng đoàn và trong các nhóm.

Được thúc đẩy và được hướng dẫn bởi một mục đích căn bản: "để đáp trả các ý định của Thiên Chúa và để bắt chước cuộc sống trần thế của Chúa Giêsu Kitô".

Ở cấp độ thần học

Từ bỏ một nhãn quan quy thần luận để thiện cảm với một nhãn quan Kitô quy tâm luận và thậm chí là một nhãn quan quy nhân luận (phù hợp với những lời của Chúa Kitô: "... ngươi đã làm việc đó cho ta"; so sánh với thư thứ 1Ga 4, 20: "vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến thiên Chúa mà họ không trông thấy..)

Ở cấp độ Giáo Hội học

Từ nhãn quan của Giáo Hội như một cộng đồng xã hội- ít nhiều tồn tại trong tầm nhìn của chính mình sang một Giáo hội rõ ràng là truyền giáo và mở cửa với thế giới.

Từ một Giáo Hội trong đó các yếu tố giáo sĩ, tu sĩ chiếm ưu thế đến một Giáo Hội với tính trần thế và tính cách giáo dân hơn.

Từ một Giáo Hội liên minh với các thế lực chính trị và tài chính của thế giới này đến một Giáo Hội hoàn toàn hướng về người nghèo.

(còn tiếp)

PMT chuyển ngữ

BÀI VIẾT CÙNG CHỦ ĐỀ
TIN / BÀI MỚI