Đức Tin Kitô Giáo
Cập nhật: 22/06/2015 06:08

 

Dẫn Nhập

 

Trong bất kỳ một tôn giáo nào, đòi hỏi con người cũng phải có niềm tin. Cũng vậy, Người Kitô luôn tin vào Thiên Chúa, Đấng tạo dựng nên mọi sự từ hư vô, Ngài luôn yêu thương và săn sóc con người. Như vậy, đức tin chính là niềm tin vào Thiên Chúa, Đấng siêu việt, là Chân, Thiện, Mỹ nguồn. Do đó, niềm tin rất quan trọng đối với người Kitô hữu. Thế nhưng, con người tin vào Thiên Chúa như thế nào? Tùy theo cảm thức đức tin của mỗi người, hình thành nên cảm thức đức tin nơi chính mình. Tuy nhiên, con người có được kinh nghiệm đức tin do sáng kiến từ Thiên Chúa và mạc khải của Ngài. Quả vậy, chúng ta không thể nói về đức tin mà không bàn đến mạc khải. Mà Đức Giêsu vừa là Đấng mạc khải vừa là con người đáp lại mạc khải của Thiên Chúa. Chính vì thế, để hiểu rõ về thần học đức tin, người xin được trình bày những vấn đề chính yếu sau:

 

I.  Kinh Nghiệm Đức Tin

Mọi Kitô hữu đều nhận thức được rằng mình có kinh nghiệm về Thiên Chúa. Thật vậy, có người kinh nghiệm đức tin qua cầu nguyện; có người kinh nghiệm bằng quan sát cảnh thiên nhiên; có người kinh nghiệm đức tin nhìn mặt trời lặn; có người kinh nghiệm đức tin qua đau khổ được thanh luyện mạnh mẽ nhất; nhưng có những người qua đau khổ tột cùng thì họ không còn tin sự hiện hữu của Thiên Chúa nữa.[1] Chính vì vậy, có hệ luận là đức tin không thuần túy được thúc đẩy từ kinh nghiệm con người, tức là cần phải có tác động của Chúa đi trước, cần phải có một cái gì vượt lên trên con người. Sáng kiến của Thiên Chúa đi trước cách đáp trả của con người. Quả vậy, trước khi chúng ta có kinh nghiệm đức tin, chính Chúa sáng kiến trước để đến với chúng ta.

 

Qua kinh nghiệm đức tin của thánh Augustinô, ngài đã nói về cuộc đời của mình, ngài đã phải đau khổ, chiến đấu rất nhiều để tin. Thế nhưng, thay vì đi tìm vẻ đẹp toàn hảo nơi Thiên Chúa, tôi dừng lại vẻ đẹp mà Chúa tạo dựng, “Con đã yêu Ngài thật muộn màng,... Con tưởng tìm kếm Ngài nhưng lại lăn xả vào những vẻ đẹp do tay Ngài tác tạo. Chúa ở bên con, còn con lại không ở bên Chúa”. Đúng vậy, con người luôn dừng lại ở vẻ đẹp trần gian, tiền tài danh vọng, thành công, chúng ngăn cản chúng ta đến với Chúa. Chúa luôn kêu gọi chúng ta mà chúng ta bị giam cầm, lỳ trong trần gian. Do đó, thánh Augustinô bị giằng co giữa vẻ đẹp trần gian và vẻ đẹp nguồn nơi Thiên Chúa “Ngài đã kêu gọi, gào thét và đã xuyên thủng sự điếc lác của con. Ngài đã chói rạng, đã sáng lòa rực rỡ, xua tan sự mù lòa của con…”(Tự thuật X, 27, 28).[2] Thế nên, chỉ khi con gắn bó với Chúa bằng con người của con thì con không bao giờ đau đớn, lao nhọc và cuộc đời tràn đầy Chúa sẽ trở nên tràn sức sống.

 

II. Thần Học Về Đức Tin

Con người là điểm được thần học hiện đại về đức tin thường đề cập đến. Qua đó, con người có thể vượt ra khỏi chính mình trong những trạng huống như khi yêu thương người khác, quyết định làm thay đổi cuộc đời, chọn lựa làm điều lành…Con người cũng cảm thấy mong manh khi đối diện với thế giới chung quanh, con người có thể đặt ra những câu hỏi về ý nghĩa cuộc đời, tương lai, về cuộc sống bên kia cái chết. Do đó, những kinh nghiệm và những câu hỏi này đẩy chúng ta đến thực tại cao cả vượt quá chính mình. Thật vậy, thần học giúp chúng ta nhận diện thực tại cao cả tuyệt đối này chính là Thiên Chúa. Tuy nhiên, sự nhận diện này có một tiến trình. Vậy, tiến trình đó là gì?

 

Tiến trình đi đến đức tin Kitô giáo bao hàm một vận hành từ đức tin tiềm ẩn tới đức tin rõ ràng. Qua đó, chúng ta thấy trong kinh nghiệm của thánh Augustinô có những lúc ông cảm thấy yêu rất nhiều, yêu người phụ nữ này, phụ nữ khác sau đó ông cảm thấy rất đau khổ. Những lúc đau khổ đó, ông nhận ra sự thất vọng trong cuộc đời mình và lần hồi ông nghe được tiếng Chúa. Tiến trình này đi từ đức tin tiềm ẩn đến đức tin rõ ràng, ngay trong chính cuộc đời của mình.

 

Thần học đức tin sẽ nói đến vấn đề ân sủng. Con người chúng ta vốn con người vật chất, làm sao chúng ta có thể trở thành con người thiêng liêng được? Thánh Phaolô nói: “chỉ con người thiêng liêng thì con người đó mới thực sự con người hoàn hảo.” Chúng ta trở thành con người thánh thiêng khi chúng ta đón nhận chính Thánh Thần của Chúa Kitô. Lúc này, chúng ta thực sự được kết hợp với Thiên Chúa. Vì thế, Chúa ban tặng cho chúng ta ân sủng để giúp chúng ta vượt qua chính mình, đến với Thiên Chúa là Đấng siêu việt tuyệt đối.

 

Mạc khải như việc tự Biểu lộ của Thiên Chúa? Câu chuyện của Abraham là tường thuật rõ nhất về việc tự mạc khải của Thiên Chúa và đáp trả của con người. “Chúa đến” và “Chúa nói” với Abraham, đó chỉ là cách diễn tả. Thế nhưng, cách diễn tả đó nói lên nội dung mạc khải của cuộc gặp gỡ. Bởi vì, Thiên Chúa là Đấng vô hình làm sao có thể đến nói với Abraham. Chính Abraham lắng nghe lời mời gọi thôi thúc trong lòng mình,“hãy đi đến quê hương, nơi mà chính Ta chỉ cho ngươi.”[3] Lời mời gọi trong lòng Abraham thôi thúc ông chọn lựa và lắng nghe lời Thiên Chúa. Qua đó, câu chuyện Abraham muốn nói lên ý nghĩa mạc khải. Chúng ta có thể lắng nghe lời mời gọi của Chúa trong tâm hồn, lời hứa về một tương lai. Thật vậy, lời mời gọi Thiên Chúa bên trong tâm hồn chúng ta đưa chúng ta ra khỏi giới hạn đến với Chúa. Tuy nhiên, điều quan trọng là chúng ta có đủ sức mạnh, can đảm để đi ra khỏi ràng buộc của mình không. Nếu chúng ta chiến thắng được những ràng buộc đó thì chúng ta dễ dàng đến với Chân, Thiện, Mỹ nguồn là Thiên Chúa.

 

Vậy, đâu là mạc khải trong ký ức của một dân tộc? Mạc khải vừa có tính chất cá nhân vừa có tính tập thể. Mạc khải có tính chất tập thể là do mạc khải được hướng về một dân tộc, mạc khải không chỉ dành cho Abraham nhưng còn là cho dân tộc Israel: “Thiên Chúa phán bảo Abram: “Ngươi hãy biết rõ điều này: dòng giống ngươi sẽ ngụ nhờ nơi thửa đất không thuộc về chúng. Người ta sẽ bắt chúng làm tôi hành hạ…, Ta sẽ xét xử và chúng ra đi với nhiều của cải. Còn ngươi, ngươi sẽ quy hồi tổ tiên bình an và được mai táng lúc tuổi già phuc hậu. Đời thứ tư, chúng sẽ về lại chốn này vì cho tới đó, tội ác của Amori chưa đầy.”[4] Quả vậy, lời mời gọi của Chúa không chỉ dành cho Abraham mà còn cho tất cả mọi người. Do đó, mạc khải cũng được dành mỗi người chúng ta. Chúng ta cũng được mời gọi theo Chúa như Chúa đã mời gọi Abraham.

 

Sự tương tác giữa lời và hoạt động của Thiên Chúa tạo nên mạc khải của Ngài. Thiên Chúa đã được mạc khải trong lịch sử và Thiên Chúa được mạc khải trong hiện tại chính là Thiên Chúa ban tặng lời hứa cho tương lai. Thế nhưng, ai bảo đảm cho lời hứa hẹn của Thiên Chúa? Thiên Chúa là Đấng vô hình thì làm sao bảo đảm? Cuộc đời chúng ta bình thường chứ không bình lặng. Mỗi người chúng ta phải đối diện với những vấn đề trong cuộc sống, đối diện với cái chết. Vì thế, con người phải đối diện với đức tin mà thôi. Con người phải tin vào Thiên Chúa là nguồn mạch mọi sự, nơi Đức Giêsu vừa là Đấng mạc khải vừa là con người đáp lại mạc khải của Thiên Chúa.

 

III. Đức Giêsu: Mạc khải quyết định của Thiên Chúa

Qua lời rao giảng và những công việc kỳ diệu của Đức Giêsu, việc tự mạc khải của Thiên Chúa được tiếp tục và hoàn tất. Lời hứa và ý nghĩa của lời hứa như là ơn cứu độ được nhìn thấy nơi con người của Đức Giêsu. Qua đó, lịch sử của dân Chúa tiếp tục như là lịch sử của lời và hành động Thiên Chúa.

 

Quả thật, sứ vụ của Đức Giêsu được đặc trưng bởi những hành động mạc khải của Thiên Chúa, để lời của Thiên Chúa đến với những ai gặp gỡ Đức Giêsu như là lời hứa và hoàn tất. Chính vì vậy, người bất toại được chữa lành, người mù nhìn thấy, người điếc được nghe, người cùi được sạch và người có tội được tha thứ. Hơn nữa, các môn đệ ngạc nhiên khi chứng kiến Đức Giêsu truyền khiến bão táp phải yên lặng: “Người là ai mà cả gió biển cũng phải vâng phục Người” (Mc 4, 35-41)[5]. Đây là những dấu chỉ chứng tỏ “nước Chúa đã đến” mà Đức Giêsu đã mạc khải.

 

Nội dung lời mạc khải của Chúa là lời hứa. Đồng thời, điều Chúa mạc khải là chính Chúa. Sự đáp trả của con người đó là sự đáp trả của Abraham đối với Chúa. Sự đáp trả đó là sự vâng phục trong đức tin. Trước lời mời gọi của Chúa thì con người cần phải nhanh nhẹn vâng phục, như Đức Maria: “vâng, này tôi là tôi tớ Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần truyền” (Lc 1, 38). Với Samuen: “lạy Chúa xin hãy phán vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe” (1Sm 3, 9). Vì thế, thánh Phaolô nhấn mạnh: tin theo Thiên Chúa quan trọng hơn, còn chu toàn lề luật thì chúng ta chẳng có thể nên công chính.

 

Đức Giêsu: lời đáp trả quyết định của con người với Thiên Chúa? Thật vậy, Nhập thể chứng thực Đức Giêsu thực sự là con người, Người đã thực sự sống thân phận con người đặt niềm tin nơi Thiên Chúa. Do đó, Người chính là lời đáp trả trọn vẹn và quyết định của con người với Thiên Chúa. Phúc Âm Maccô thuật lại: Người đã buồn sầu, xao xuyến đến chết được, Người đã quỳ gối cầu nguyện xin cho khỏi uống chén đắng, nhưng rồi Người đã xin vâng phục trọn vẹn ý Cha. Như vậy, Chúa Giêsu đã làm chứng cho con người đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa.

 

Thế nhưng, con người chúng ta có thể đáp lại mạc khải của Thiên Chúa không? Chính Chúa Giêsu là hình ảnh cho chúng ta hiểu, con người có thể đáp lại mạc khải của Thiên Chúa. Bởi vì, Chúa Giêsu là hình ảnh gương mẫu, Người đã sống đức tin trọn vẹn để nêu gương cho chúng ta. Vì thế, thánh Phaolô nói: “mặc dù không có gì để trông cậy, ông vẫn trông cậy”(Rm 4, 18). Thật vậy, Chúa Giêsu vén tỏ cho chúng ta chân trời khả thể. Qua đó, chúng ta phải học theo Chúa Giêsu để đáp trả lại lời mời gọi của Thiên Chúa bằng việc học khiêm nhường, học tin tưởng, học phục vụ và yêu thương.

 

IV.  Đức Tin Của Giáo Hội

Qua những câu chuyện từ Abraham tới Đức Giêsu, chúng ta khảo sát về kinh nghiệm và nội dung đức tin. Thế nhưng, đức tin là gì? Đức tin là lời mời gọi của Chúa mà chúng ta gọi đó là ân sủng. Thiên Chúa mời gọi con người, con người dấn thân theo Chúa, Augustinô nói: “đó là sự tự do khi chúng ta dám từ bỏ sự điếc lác, từ bỏ sự đui mù què quặt của mình để mở lòng ra với Chúa.”

 

Qua đó, Abraham vì việc làm mà được giải án tuyên công (nên công chính)? Nếu vì việc làm thì ông có lý để tự hào! Song không phải mà vì ông đã tin vào Thiên Chúa. Vì thế, Phaolô nói: “việc Abraham được xóa án là ông đã tin, vì ông tin nên ông được công chính.”[6] Nơi người có việc làm thì công không kể được là ơn nhưng là nợ. Như vậy, Abraham được nên công chính là do lòng tin chứ không phải là ông đã làm nên công trạng gì. Nếu những người nại đến lề luật được công chính, được cơ nghiệp thì tin trở nên vô ích, lời hứa bị bỏ đi. Thật vậy, Abraham, hai ông bà đã già rồi mà không có con nhưng ông vẫn tin tưởng vào Thiên Chúa. Thiên Chúa đã hứa là ông sẽ trở thành cha già của nhiều dân tộc. Chính vì thế, Abraham là gương mẫu của người được tha thứ, được công chính nhờ lòng tin. Thế nhưng, không phải cho Abraham mà thôi mà cho tất cả chúng ta nữa, những kẻ tin vào Thiên Chúa, Đấng đã cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết.

 

Đức tin lưu truyền trong Giáo Hội qua những câu chuyện, Tin Mừng, chuyện trong Cựu Ước. Trong Tin Mừng Gioan, Đức Giêsu nói với người phụ nữ Samaria về giếng nước. Người phụ nữ ban đầu nhìn Đức Giêsu như người khách lạ, từ từ nhận ra Đức Giêsu là tiên tri, sau đó nhận ra Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế. Tại sao người phụ nữ lại nhận ra Đức Giêsu? Bởi vì, qua câu chuyện, Chúa Giêsu nói với bà: “bà hãy về kêu chồng bà ra đây”. Bà trả lời: tôi không có chồng. Đức Giêsu nói, bà nói đúng, vì bà có bảy đời chồng, nên người bà đang sống chung không thực sự là chồng bà. Đức Giêsu đã thấu hiểu được tâm trạng của bà.[7] Qua câu chuyện này, Đức Giêsu tỏ mình lần hồi, tỏ mình là người đang khát nước xin nước, rồi tỏ mình là người trao cho bà nước hàng sống. Người phụ nữ lần hồi tin tưởng vào Đức Giêsu. Vậy, đức tin đến với người phụ nữ qua trao đổi với Đức Giêsu. Qua đó, câu chuyện đã giúp cho người ta có kinh nghiệm về đức tin, hiểu Đức Giêsu để tin vào Người.

 

V. Bản Năng Của Dân Chúng Đối Với Đức Tin

Công đồng Vaticanô II khẳng định: dân chúng thì có cảm thức đức tin. Vì thế, những người đã được lãnh nhận phép rửa, đã được xức dầu Thánh Thần tin vào một điều gì thì điều đó được kể là không sai lầm. Bởi vì, Thánh Thần hiện diện nơi toàn thể Giáo Hội. Chính vì thế, Hiến chế Tín lý về Giáo hội, Lumen Gentium, tuyên bố rằng: “toàn thể các tín hữu đã lãnh nhận việc xức dầu từ Thánh Thần duy nhất không thể vị sai lầm trong đức tin”(LG 12).[8] Quả vậy, Phúc Âm Gioan luôn nhấn mạnh đến sự hiệp thông bằng Thánh Thần. Thánh Thần ở lại nơi những người tín hữu và dẫn đưa các tín hữu tới chân lý toàn vẹn.

 

Trong lời từ biệt các Tông đồ, Chúa Giêsu hứa ban Thánh Thần và Thánh Thần hiện diện trong Giáo Hội, “Thầy sẽ xin Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng phù trợ khác để ở với anh em luôn mãi” (Ga 14, 16). Thánh Thần luôn hoạt động sống động trong Giáo Hội. Nhờ Thánh Thần, Giáo Hội gìn giữ được ký ức sống động về những gì Chúa Giêsu đã rao giảng, làm và nói. Nhất là khi Giao ước giữa Thiên Chúa và con người được thiết lập một cách quyết định nhờ cái chết và Phục sinh của Chúa Giêsu, thì Chúa Thánh Thần dẫn đưa con người thâm nhập vào mầu nhiệm Thiên Chúa được mạc khải nơi Đức Giêsu. Do đó, người tín hữu phải hiểu được ý nghĩa của Chúa Giêsu làm và Chúa Giêsu nói.

 

VI. Diễn Tả Đức Tin

Đức tin được diễn tả qua tường thuật và hoạt động là những phương thế quan trọng để dân Chúa nhận biết Ngài. Tường thuật được diễn tả qua những câu chuyện thời Cựu Ước, những câu chuyện trong Tin Mừng. Còn những hoạt động là việc học hỏi giáo lý, tuyên xưng đức tin… Đây cũng là những phương thế để nhận biết, diễn tả đức tin.

 

Trong tường thuật của Chúa Giêsu nói chuyện với người phụ nữ xứ Samaria có một đề tài cần khai triển đó là “nước.” Vậy, nước cho chúng ta hình ảnh giải khát cũng như là nước ban sự sống. Vì vậy, chân lý được nhận thức không phải dưới hình thức mệnh đề nhưng dưới hình thức những gì siêu việt những mệnh đề, chẳng hạn như biểu tượng nước ban sự sống: tôi sẽ cho bà nước dẫn đưa tới sự sống. Vì thế, đây không phải là mệnh đề đức tin, hay tín lý, nó vượt lên trên những mệnh đề đó và trở thành năng lực của biểu tượng, như nước dẫn đưa tới sự sống đời đời. Cũng vậy, phép rửa sử dụng nước mà nước biểu tượng cho sự sống. Bánh rượu diễn tả Mình và Máu Thánh Chúa…Quả vậy, đức tin diễn tả bằng biểu tượng thông truyền chân lý. Do đó, biểu tượng là điều cần thiết cho đời sống đức tin cũng như cho đời sống của cánh chung.

 

VII. Những Chân Lý Đức Tin

Đức tin được diễn tả qua mệnh đề, người ta gọi là chân lý đức tin. Trong lễ ngũ tuần, trong những lời rao giảng của thánh Phêrô hoặc thư Phaolô thì có những định thức đức tin của Giáo Hội. Những định thức đức tin của Giáo Hội được diễn tả bằng những từ ngữ về lời hứa của Thiên Chúa đã được bắt đầu nơi Đức Giêsu, ai tin nơi Người thì sẽ được ơn tha thứ.

 

Thế nhưng, đâu là việc tìm ngôn ngữ diễn tả đức tin? Để diễn tả những định thức đức tin thì Giáo Hội phải tìm ngôn ngữ đó. Thế nhưng, ngôn ngữ đó là gì? Ngôn ngữ đó là ngôn ngữ triết lý, bản thể, ngôi vị…Tuy nhiên, có một cuộc tranh luận trong Giáo Hội, những lạc thuyết đưa ra những lập trường đức tin khác nhau. Vì thế, thánh Irênê nói: “dù chúng ta có nhiều chủng tộc, nhiều ngôn ngữ khác nhau nhưng đức tin phải duy nhất… Giáo hội tin vào đó theo cùng một cách thức, như thể chỉ có một tâm hồn, một trái tim và Giáo hội đồng thanh rao giảng, giáo huấn, truyền đạt những điều đó như thể chỉ có một miệng lưỡi.”[9]  Do đó, chúng ta phải tuân giữ đức tin duy nhất của Giáo Hội, phải tôn trọng Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Vì thế, chúng ta phải tôn trọng giáo thuyết các Tông đồ.

 

Quả vậy, K. Rahner nói: chúng ta phải tôn trọng định thức đức tin vốn đã được thừa nhận trong Giáo Hội, với những ngôn ngữ triết học thời kỳ đó. Tuy nhiên, ngày nay chúng ta không thay đổi định thức đức tin mà chúng ta có thể giải thích theo ngôn ngữ ngày nay. Ông nói: “chúng ta có thể thử những định thức đức tin nhiều những khẳng định tín điều căn bản của đức tin. Chúng ta có thể thay đổi không chỉ tùy vào những khác biệt về quốc gia, văn hóa, tôn giáo…, góp phần xác định hoàn cảnh đặc thù.” Thật vậy, Công đồng Vaticanô II đã nhắc nhở khi đề cập đến sự duy nhất đức tin. Chúng ta phải nhớ đến ý niệm phẩm trật các chân lý. Sắc lệnh đại kết Unitatis Redintegratio số 11 nhắc nhở về phẩm trật chân lý này bởi vì “chúng thay đổi trong tương quan với nền tảng đức tin Kitô giáo.”[10] Vậy, vai trò của Giáo Hội là Giáo Hội làm sao một mặt là giữ cho được sự duy nhất đức tin giữa tất cả mọi người. Mặt khác, vai trò Giáo Hội làm sao để có thể giúp cho Giáo Hội đón nhận sự mới mẻ.

 

Kết Luận

Đức tin là lời mời gọi của Chúa mà chúng ta gọi đó là ân sủng. Đức tin lưu truyền trong Giáo Hội qua những câu chuyện, Tin Mừng, chuyện trong Cựu Ước,…để hình thành nên kinh nghiệm đức tin của mỗi người. Thế nhưng, đức tin không thuần túy được thúc đẩy từ kinh nghiệm con người, mà phải có sáng kiến của Thiên Chúa. Sáng kiến của Thiên Chúa đi trước cách đáp trả tự do của con người. Tuy nhiên, mỗi người có kinh nghiệm đức tin khác nhau, đi từ đức tin tiềm ẩn đến đức tin rõ ràng.

 

Trong chọn lựa, con người luôn bị giằng co, thay vì chọn Chúa thì con người đi tìm kiếm những đam mê thế gian. Thế nhưng, Thiên Chúa luôn yêu thương, tặng ban ân sủng để giúp con người vượt qua chính mình. Điều quan trọng là chúng ta có đủ sức mạnh, can đảm để ra khỏi ràng buộc của mình hay không? Nếu chúng ta chiến thắng được những ràng buộc đó thì chúng ta dễ dàng đến với Thiên Chúa là Đấng siêu việt tuyệt đối, là Chân, Thiện, Mỹ nguồn của mọi chân, thiện, mỹ. Qua bài viết này, với giới hạn của mình, người viết không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong quý Độc giả góp ý để bài viết được tốt hơn.

 

Phêrô Dương Thái Long

 


[1] Richard Lennan, Thần Học Nhập Môn,  Chuyển ý Lê Văn Chính, năm 2008, tr. 57.

[2] Ibid., tr. 59.

[3] Richard Lennan, Thần Học Nhập Môn,  Chuyển ý Lê Văn Chính, năm 2008, tr. 62.

[4] Xc St 15, 13-16.

[5] Ibid., 64.

[6] Richard Lennan, Thần Học Nhập Môn,  Chuyển ý Lê Văn Chính, năm 2008, tr. 66.

[7] Xc Ga 4, 1-27.

[8] Richard Lennan, Thần Học Nhập Môn,  Chuyển ý Lê Văn Chính, năm 2008, tr. 69.

[9] Ibid., tr. 72.

[10] Richard Lennan, Thần Học Nhập Môn,  Chuyển ý Lê Văn Chính, năm 2008, tr. 72-73.

BÀI VIẾT CÙNG CHỦ ĐỀ
TIN / BÀI MỚI