ĐẶC TÍNH NGÔN SỨ CỦA ĐOÀN SỦNG VINH SƠN Phần I
Cập nhật: 09/08/2017 07:51

Tác giả: Cha José Vicente Nacher Tatay, CM

 

  1. Giới thiệu

 

“Đặc tính ngôn sứ của linh đạo Vinh Sơn" ... như khi một tiêu đề được trình bày, luận điểm mà người ta mong muốn triển khai thì được diễn đạt rõ ràng. "Đặc tính ngôn sứ của linh đạo Vinh Sơn" là một sự khẳng định, một mong muốn, một cam kết.

 

Đoàn sủng Vinh Sơn có tính ngôn sứ trong thế giới ngày nay không? Nó sẽ được tiên báo trong tương lai gần không? Tôi tin rằng trong diễn đàn này không cần thiết phải trả lời những câu hỏi đó bởi vì sự trả lời hiển nhiên của chúng tôi là có. Để trả lời theo cách này người ta không phải nghe bản trình bày này (hoặc đọc các trang này). Trong nhiều dịp, Giáo Hội (và xã hội) đã nhận ra sự nghiệp và đoàn sủng của Vinh Sơn Phaolô và Louise de Marillac. Trên thực tế các Ngài đã được đặt làm bảo trợ các tổ chức bác ái toàn cầu.

 

Có những lý do đã thay đổi là nguyên do của đoàn sủng này? Không, đúng hơn là kịch tính của sự nghèo đói trên thế giới đã trở nên cấp thiết hơn trong những năm gần đây. Do đó, đoàn sủng này sẽ tiếp tục tồn tại bao lâu vẫn còn có những người nghèo.

 

Nhưng hãy cẩn thận ở đây. Chúng ta không phải là "những chủ sở hữu" của đoàn sủng mà chỉ đơn giản là những người nam và nữ đã đón nhận được đoàn sủng và do đó là những người nam và nữ tôi tớ của đoàn sủng này. Nếu chúng ta không trung thành với đoàn sủng này, Chúa Thánh thần sẽ ban tặng sự phục vụ của đức bác ái này trên người khác.

 

Nhưng có một câu hỏi thậm chí sâu sắc hơn là: làm sao chúng ta có thể sống đoàn sủng của chúng ta một cách ngôn sứ? Nói cách khác, đặc tính của chúng ta là gì? Câu trả lời cho những câu hỏi này ngụ ý rằng chúng ta có "căn tính", nghĩa là chúng ta biết chúng ta là ai và chúng ta trải nghiệm căn tính của chúng ta một cách sống động.

 

Chúng ta sẽ cố gắng trả lời đầy đủ hơn câu hỏi đó trong bài trình bày này. Do đó, chúng ta bắt đầu với một khung lý thuyết xác định ý nghĩa của từ "đoàn sủng" và "ngôn sứ" và qua đó cũng mô tả tình trạng xã hội mà chúng ta tìm thấy chính mình.

 

 

  1. Đoàn sủng

 

  1. Đoàn sủng trong Giáo Hội

 

Đoàn sủng: một ân ban của Thánh Thần được ban cho một người mà những người khác theo, theo cách thức được cấu trúc và được chuẩn nhận nhiều hơn hoặc ít hơn bởi Giáo Hội. Đoàn sủng là những ân ban khác nhau mà Thần Khí ban cho người Kitô hữu vì lợi ích của Giáo Hội trong mọi thời đại. Chúa Thánh Thần phân phát các ân sủng đặc biệt trong số các tín hữu như Ngài mong muốn (1Cr 12:11), làm cho họ có khả năng và nhanh chóng tham gia vào nhiều công việc khác nhau hữu ích cho việc xây dựng thân thể Giáo Hội (1Cr 12: 7). Yếu tố có tính cuốn hút này là một phần của bản chất của Giáo Hội và được sáp nhập vào yếu tố thể chế của Giáo Hội [1]. Vì vậy, Chúa Kitô và Thánh Thần thiết lập Giáo Hội và ban cho Giáo Hội một cấu trúc ban sự sống cho động lực thánh hóa của chính Giáo Hội.

 

 

Giáo Lý của Giáo Hội Công giáo nhắc nhở chúng ta: “Trong mầu nhiệm các thánh thông công, nhiều các linh đạo khác nhau đã được phát sinh trong suốt lịch sử của hội thánh. Đặc sủng riêng của từng nhân chứng về tình yêu của Thiên Chúa đối với con người, có thể được truyền lại, như "thần trí" của Êlia được truyền lại cho Êlisê và cho ông Gioan tẩy giả, để những người theo họ có thể chia sẻ thần trí này”. (GlCG số 2684). Một điều gì đó tương tự xảy ra với Vinh Sơn Phaolô và đoàn sủng của chúng ta.

 

Tông huấn Đời Sống Thánh Hiến (Vita Consecrata) chỉ ra: bất cứ đoàn sủng nào cũng hướng về Chúa Thánh Thần, mời con người để cho Thánh Thần hướng dẫn và nâng đỡ trên con đường thiêng liêng cũng như trong đời sống hiệp thông và hoạt động tông đồ, ngõ hầu sống trong thái độ phục vụ, là thái độ phải soi dẫn mọi chọn lựa của người Ki-tô hữu chân chính. (Vita Consecrata, số 36) [2].

 

  1. Đoàn sủng Vinh Sơn

 

Đoàn sủng Vinh Sơn: những ân ban mà Thánh Thần ban cho Vinh Sơn Phaolô, Louise de Marillac và những người theo họ. Những ân ban đã thúc đẩy các Ngài phục vụ Chúa Kitô nơi cá nhân của người nghèo.

 

Bằng cách sử dụng ngôn ngữ của Vinh Sơn, đoàn sủng Vinh Sơn bao gồm những ân ban mà Thiên Chúa đã dùng để làm giàu cho chúng ta, để chúng ta có thể làm những điều tương tự như Vinh Sơn đã làm khi còn ở trên trái đất: Phúc Âm hóa / phục vụ người nghèo.

 

Theo lời Bề trên Tổng quyền của Tu hội Truyền Giáo: đoàn sủng Vinh Sơn hoặc linh đạo là để sống theo Thần Khí của Đức Kitô, Đấng đã được sai đến để loan báo Tin Mừng cho người nghèo [3]. Châm ngôn Tin Mừng mà Chúa Kitô đã dạy và Vinh Sơn đã ngưỡng mộ và tạo hình cho đoàn sủng là: tình yêu và sự tôn kính đối với Chúa Cha, lòng trắc ẩn và tình yêu hữu hiệu đối với người nghèo, và sự ngoan ngoãn vâng theo Chúa Quan Phòng.

 

Thánh Vinh Sơn đề ra một số nhân đức cần thiết và hữu hiệu để hoàn thành ơn gọi của chúng ta: sự đơn sơ, khiêm tốn và bác ái [4].

 

 

  1. Các cộng đoàn Vinh Sơn và đoàn sủng

 

Cho phép tôi bắt đầu phần này với một quan điểm cá nhân. Không phải tất cả mọi người trong chúng ta (các thành viên của Tu hội Truyền Giáo, Tu hội Nữ Tử Bác Ái, Hiệp hội Bác ái Quốc tế, Hiệp hội Giới trẻ Con Đức Mẹ Vinh Sơn, Hiệp hội thánh Vinh Sơn, vv…) đã tin rằng rằng mục đích đặc thù và duy nhất của chúng ta trong Giáo Hội là ở với người nghèo và thay mặt Giáo Hội để phục vụ. Do đó nhiều người là thành viên của các nhóm và / hoặc các hiệp hội của chúng ta nhưng không nhận thức được đoàn sủng Vinh Sơn.

 

Sự tầm thường thường được tìm thấy trong số chúng ta ...sự tầm thường khiến chúng ta theo chủ nghĩa thích nghi và thoải mái ... trong tất cả những điều này chúng ta cần phải cảnh giác để chúng ta không trở thành kẻ đồng lõa trong các nguyên nhân gây ra đói nghèo.

 

Một số cá nhân tin rằng họ là "các vị ngôn sứ" vì họ nói những điều tế nhị hoặc chiến đấu. Khi chúng ta nói về ngôn sứ, chúng ta thường nhầm lẫn điều này với một sự nông cạn, "chủ nghĩa hiện đại" nhạt nhẽo. Chúng ta không thể nói: "Tôi là một thành viên của Gia đình Vinh Sơn vì thế, điều tôi làm và nói là Vinh Sơn." Đặc tính ngôn sứ phải ảnh hưởng đến toàn thể đời sống cá nhân và cộng đoàn của chúng ta.

 

Rất ít trong số chúng ta có một đặc tính ngôn sứ và / hoặc phẩm chất của một nhà lãnh đạo có năng lực. Chúng ta có thể đồng ý với Cha José Ignacio F. Mendoza, người đã nói rằng chúng ta cần những người hiểu như thế nào đoàn sủng Vinh Sơn đang được sống và nên được sống như thế nào. Chúng ta cần những người được tràn đầy những ân sủng của chúa Thánh Thần: sự hoan lạc, bình an, nhân từ và khôn ngoan [5]. Chúng ta cần những người được thấm nhuần tinh thần ngôn sứ và cánh chung. Chúng ta cần những người hiểu được quá khứ, sống trong hiện tại với hy vọng và hướng về tương lai. Chúng ta cần những người chấp nhận những rủi ro, những người năng động và sẵn sàng đối mặt với cuộc đấu tranh của cuộc sống. Chúng ta cần những người truyền cảm hứng sự nhiệt thành và động viên người khác.

 

 

Tôi tin rằng một phương tiện căn bản cho phép chúng ta duy trì được đặc tính ngôn sứ của đoàn  sủng Vinh Sơn là cho mỗi nhóm của Gia đình Vinh Sơn biết Hiến Pháp, các Quy tắc và Bản đúc kết của Tổng Đại Hội của họ. Chẳng hạn như: Tu Hội Truyền Giáo, trung thành với Tin Mừng, và luôn chú ý đến những dấu chỉ thời đại và những lời kêu gọi cấp bách hơn của Giáo Hội, nên chú ý mở ra những cách thức mới và sử dụng các phương tiện mới thích nghi với hoàn cảnh về thời gian và nơi chốn. Hơn nữa, nó phải cố gắng để đánh giá và lên kế hoạch các công trình và các tác vụ của mình, và duy trì cách thế này trong một trạng thái liên tục của sự canh tân (Điều 2 của Hiến Chương và Luật Chung của Tu Hội Truyền Giáo) [6].

 

Hoặc liên quan tới các Nữ Tử Bác Ái: [7]

 

 

  1.  Ngôn sứ

 

Ngôn sứ là một món quà siêu nhiên cho phép các cá nhân giúp người khác nhìn thấy những điều họ không thấy hoặc không muốn nhìn thấy (tố cáo/tuyên bố).

 

Để là ngôn sứ có nghĩa là người ta diễn đạt bằng lời nói và với cuộc sống của mình "những kỳ công tuyệt diệu của Thiên Chúa" (xCv 2:11) trong khi vẫn giữ được sự thật và tính duy nhất của mỗi người.

         

  1. Ngôn sứ trong Kinh thánh

 

Lời ngôn sứ trong Kinh thánh bao gồm việc rao giảng về tính ưu việt của Thiên Chúa và các giá trị Tin Mừng.

 

Trong Tân Ước, lời tiên báo xuất hiện 21 lần và lời ngôn sứ 16 lần. Thực tế này cho chúng ta một vài ý tưởng về tầm quan trọng của những thực tại này không chỉ đối với tiền nhân Do Thái mà còn đối với cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi.

 

Các ngôn sứ trong Kinh thánh đã kinh nghiệm một lời kêu gọi mạnh mẽ từ Thiên Chúa để làm sứ giả của Ngài. Các ngôn sứ sống trong sự tự do của Thánh Thần. Thông qua các vị ngôn sứ đích thực, Thiên Chúa không chỉ tiết lộ ý muốn của Ngài mà trên thực tế tỏ lộ chính mình Ngài cho chúng ta.

 

 

Nếu lời ngôn sứ soi sáng, khuyến khích, thúc đẩy và thanh lọc niềm tin cộng đoàn, thì làm thế nào để chúng ta trở thành những ngôn sứ trong một thế giới không tin?

 

Những hằng số của những lời ngôn sứ trong Kinh thánh: Ngôn sứ là một hiện tượng tập thể mà sau này đòi hỏi hành động cá nhân nhiều hơn. Những chức năng ngôn sứ trong số các ngôn sứ là một kinh nghiệm tôn giáo sâu xa bởi điều mà nó làm gián đoạn cuộc đời của các vị ngôn sứ và gửi cho họ một sứ mệnh (các vị ngôn sứ không "khiển trách" những người khác mà là họ sống và hành động phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa). Chúng ta thì sẵn sàng là những người nam và nữ hoàn toàn dành trọn cho Thiên Chúa?

 

Các ngôn sứ được mặc lấy quyền của Đấng sai họ, nghĩa là mặc lấy quyền năng của Thiên Chúa. Sức mạnh của lời nói của họ bắt nguồn từ Thiên Chúa. Các vị ngôn sứ không phải là siêu nhân hay siêu nữ. Họ là những người tin, không gì hơn.

 

Các ngôn sứ can đảm chống lại bất kỳ ai mà phải đối mặt. Lời tố cáo của họ không phải là khiếu nại của con người nhưng trước hết là sự phán xét của Thiên Chúa đối với các kế hoạch của con người. (Do đó, các ngôn sứ vượt xa hơn lời ngôn sứ của họ hơn là sống lời ngôn sứ của họ ... nó không phải là dễ dàng cũng không được lòng để là một ngôn sứ).

 

Các vị ngôn sứ không nói những lời "mà mọi người muốn nghe" mà là tuyên bố những gì Thiên Chúa muốn nói: Họ tố cáo sự dữ và tuyên bố ơn cứu độ (họ kết hợp những lời nghiêm khắc với ngôn ngữ dịu dàng.)

 

Những khía cạnh quan trọng liên quan đến các sứ điệp của các vị ngôn sứ trong Kinh Thánh:

 

Họ giáo dục: nhân danh Thiên Chúa các ngôn sứ giáo dục các tín hữu về những giá trị quan trọng nhất cho cuộc sống.

 

Họ giải thích: mặc dù Thiên Chúa luôn hiện diện, người ta thường không nhận ra Thiên Chúa. Các ngôn sứ tiết lộ sự hiện diện của Thiên Chúa và nhân danh Thiên Chúa họ diễn giải ý nghĩa của các sự kiện bình thường và phi thường.

 

Họ tố cáo: các vị ngôn sứ tố cáo lỗi của những người đã lạc lối và mời họ tham gia vào một quá trình hoán cải.

 

Họ tuyên bố: vì thường chúng ta không thể nhìn thấy bất cứ điều gì vượt ra ngoài chính mình, các vị ngôn sứ tuyên bố thực tại về những gì Thiên Chúa muốn chúng ta xây dựng (một thế giới công bằng hơn và huynh đệ). Các ngôn sứ đưa chúng ta đến một tương lai mà chúng ta phải sáng tạo (không có dự đoán hoặc đoán trước), tức là, các ngôn sứ hướng chúng ta một tương lai sẽ trở thành hiện thực bởi vì Thiên Chúa đã cam kết lời của Ngài.

 

 

  1. Những ngôn sứ trong Giáo Hội

 

Bí tích Rửa Tội làm cho mọi Kitô hữu trở thành ngôn sứ và làm cho mỗi thành viên Vinh Sơn cũng là một ngôn sứ. Tất cả mọi Kitô hữu, những người ý thức về sự hiện diện của Thánh Thần trong đời họ, phải tự hỏi rằng: những ân ban nào chúng ta phải có để phục vụ các chị em của chúng ta một cách tốt hơn. Chúng ta nên biện phân những ân ban này và nhận ra thực tế là những ân ban này bắt nguồn từ Đấng mà ban cho tất cả những điều tốt đẹp trên chúng ta. Đồng thời, chúng ta nên dùng những ân ban này để xây dựng Giáo Hội, cộng đoàn của ơn cứu độ.

 

Đoàn sủng Vinh Sơn là một đoàn sủng của Giáo Hội và nếu chúng ta trung tín với Chúa Kitô và Giáo Hội, thì đoàn sủng này sẽ luôn luôn phù hợp và thực tế giống như Đức Kitô thì luôn phù hợp và thực tế.

 

Các ngôn sứ nói nhân danh Thiên Chúa. Họ giải thích lịch sử. Họ áp dụng lời Thiên Chúa cho hiện thực hiện tại và trong ánh sáng của Nước Trời họ thường đưa ra các phán đoán liên quan đến điều thiếu trong thực tại này. Chúa Giêsu là đỉnh cao của các ngôn sứ. Vương Quốc của Thiên Chúa đã đến trong ánh sáng ban ngày với Chúa Giêsu. Chúa Giêsu không ngừng công bố rằng Nước Thiên Chúa ở gần và Ngài đã gọi những người theo Ngài để loan báo Tin Mừng đó. Kitô hữu được kêu gọi để công bố với thế giới rằng Vương quốc của Thiên Chúa đang ở đây. Chúng ta đấu tranh chống lại các hình thức nghèo đói khác nhau không vì lý do tình cảm hoặc lý do thuần túy của con người, nhưng chúng ta làm điều này để phục vụ Nước Trời.

 

Các đặc điểm của các ngôn sứ chân chính ngày nay: [A] Họ không công bố tương lai, mà là phán đoán hiện tại [8]. Họ biết làm thế nào để nhìn vào cuộc sống bằng đôi mắt đức tin và do đó khám phá ra (và giúp đỡ người khác khám phá) nơi Thiên Chúa có thể và không thể được tìm thấy. [B] các ngôn sứ là những cá nhân giúp chúng ta sống chân lý với sự toàn vẹn của Tin Mừng. Họ không thỏa hiệp tiếng nói của họ nhân danh cho lợi ích của quyền lực của thế giới này. [C] Họ tuyên bố những đòi hỏi thực sự của Nước Trời. [D] Họ khám phá ra kế hoạch của Thiên Chúa trong lịch sử và liên quan đến chúng ta trong việc hoàn thành kế hoạch của Thiên Chúa.

 

  1. Chiều kích Ngôn sứ và Ngụy- Ngôn sứ trong cuộc sống của chúng ta

 

Đã có và có rất nhiều ngôn sứ trong số chúng ta, nam giới và nữ giới trên toàn thế giới đã làm vinh dự cho chúng ta với tư cách thành viên trong gia đình Vinh Sơn. Chúng tôi khuyên bạn nên đọc lại tiểu sử của các ngôn sứ Vinh Sơn vĩ đại: Vinh Sơn Phaolô, Louise de Marillac, Catherine Laboure, Frederic Ozanam, Jean-Gabriel Perboyre ...

 

Đồng thời, chúng ta có thể xuất hiện như một ngụy ngôn sứ khi chúng ta hành động để thích ứng với bản thân, khi chúng ta tầm thường, khi chúng ta hành động như mọi người khác. Sau đó chúng ta không sống chứng nhân và trên thực tế chúng ta trở nên những dấu chỉ- tương phản.

 

Một số ví dụ: chúng ta trở thành những dấu chỉ tương phản khi chúng ta không chuẩn bị bài giảng hay một bài học giáo lý trong giờ cầu nguyện, sau đó chúng ta bắt đầu những lời có lý thuyết và ngẫu hứng. Khi một linh mục của truyền giáo có mối quan hệ tốt với các thành viên giàu có trong giáo xứ nhưng không bao giờ thăm người nghèo. Khi tôi không nói chuyện với anh chị em trong cộng đoàn mà thay vào đó chỉ trích họ trước mặt những người giáo dân hay khi tôi chọn những công việc thoải mái nhất. Khi một nữ tu chọn các khóa học dễ dàng nhất và luôn luôn ‘nhường’ những khóa học khó khăn hơn cho những người khác ... [9]. Trong những tình huống này không phải là một vị ngôn sứ.

 

Chúng ta cũng phải nhận thức được những cám dỗ tinh tế có thể lôi kéo chúng ta [10]. Do đó cần phải nhận ra và vượt qua những cám dỗ nhất định mà đôi khi bởi sự dối trá ác độc, chính chúng hiện diện dưới sự xuất hiện của điều thiện.

 

Để là ngôn sứ có nghĩa là chúng ta sẵn lòng tham gia vào một cuộc đấu tranh để vượt qua những khuynh hướng ngăn cản chúng ta làm chứng nhân đích thật: gặp Thiên Chúa trong con người nghèo khổ, tôn thờ thinh lặng, khổ hạnh, kỷ luật bản thân, tiết độ, nghèo khó Tin Mừng, đặt mình vào bên cạnh những người đang cần và nhận thức được những cám dỗ tinh tế của chủ nghĩa tiêu thụ.

 

3.4 Để là Ngôn sứ ngày nay như thế nào

 

Trước hết, chúng ta nên nhắc lại những lời này mà thánh Phaolô đã viết cho giáo đoàn Rôma: Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo. (Rm 12: 2)

 

Các ngôn sứ được đặt vị thế giữa nhân loại và thần linh và do đó tạo ra khả năng đối thoại giữa nhân loại và thần linh. Đặc sủng của Vinh Sơn có thể làm gì trong vấn đề này? Rõ ràng nó có thể làm được nhiều bởi vì tầm quan trọng không chỉ cho những gì được nói mà còn cho những người nói những gì. Do đó, chứng nhân của chúng ta tạo ra khả năng được lắng nghe.

 

Vị ngôn sứ không chỉ nói "nhân danh Thiên Chúa" mà còn "nói về Thiên Chúa" ... và điều này tốt hơn. Đoàn sủng Vinh Sơn có nói về Thiên Chúa không? Không nghi ngờ gì nữa. Thật vậy, đối với xã hội mà chúng ta đang sống, liệu có cách nào tốt hơn để nói về Thiên Chúa hơn là sử dụng cử chỉ công bình và bác ái?

 

Trung tâm của đời sống Kitô hữu là chứng nhân ngôn sứ thay mặt Nước Trời. “Giêsu thì đang sống”, các ngôn sứ nói, “Người ở đây”. Cuộc sống của các ngôn sứ đang thách đố thế giới, thách đố thế hệ hiện tại cũng như các thế hệ tương lai để nhận ra Đấng Phục Sinh. Ngày nay, sự thừa nhận như vậy sẽ không thể đạt được bằng cách đưa ra một mớ lý thuyết mà là những đề xuất cụ thể và thực tế. Người nam và nữ ngày nay không bị động bởi khẩu hiệu, nhưng đã trình bày những hành động cụ thể sẽ có liên quan. Để trở thành ngôn sứ ngày nay là mở ra những con đường đoàn kết và làm cho "sự giàu có" thực sự mà người nghèo chiếm hữu.

 

Tôi tin rằng điều tốt nhất cho các Tu Hội Vinh Sơn và các Hiệp hội của chúng ta để phát triển đặc biệt, các công trình xã hội đơn giản cụ thể cung cấp những lựa chọn thay thế cho những đáp trả làm tổn thương bởi người khác (làm những gì mà những người khác không muốn làm). Các thành viên của gia đình Vinh Sơn phải hành động theo một cách mới bằng cách đưa ra "phẩm chất Kitô giáo" mà những người khác, thậm chí, dù họ có nhiều khả năng nguồn lực hơn để làm nó, nhưng sẽ làm chỉ với khó khăn to lớn.

 

Chúng ta có thể khẳng định rằng cần có sự hợp tác hiệu quả hơn giữa các thành viên của Gia đình Vinh Sơn, một sự hợp tác sẽ nhân lên và hiện thực hóa các tiềm năng của chúng ta. Không còn nghi ngờ gì nữa đó là có rất nhiều mẫu gương về sự hợp tác này nhưng cũng không có nghi ngờ rằng sự hợp tác này có thể được tăng cường và thúc đẩy hơn nữa. Một cái gì đó rất thực tế và cụ thể đã được đề xuất: những kho hàng chỉ cho kinh doanh. Chúng ta không có các trang web, nhân viên và tiền bạc có để bắt đầu một nỗ lực như vậy sao? Có phải chúng ta không có nhiều các anh chị em là những nhà truyền giáo ở các quốc gia khác và đang tìm các cách để tự thăng tiến cho những người mà họ đang phục vụ [11]?

 

Đây có thể là một cách để chỉ ra thực tế là yếu tố ngôn sứ của đoàn sủng không phụ thuộc vào số lượng hoặc độ tuổi của thành viên của chúng ta nhưng là sự sẵn sàng và sự trung thành của họ và khả năng sống Tin Mừng một cách triệt để. Tôi sẽ gọi điều này là "lòng trung thành sáng tạo với đoàn sủng ban đầu".

 

Nhưng có lẽ lời ngôn sứ mà đòi hỏi xã hội của chúng ta hôm nay thậm chí sẽ vượt qua những hành động phục vụ nhân danh người nghèo. Có lẽ ở những nơi mà mọi nhu cầu dường như đã được thỏa mãn, thái độ ngôn sứ nên là việc tuyên bố nghèo khó Tin Mừng là một giá trị tự chính nó [12]. Lời ngôn sứ sâu sắc và khó khăn nhất bao gồm việc làm chứng về một Thiên Chúa là Đấng "giàu có đích thực" của trái tim con người. Do đó, nghèo khó Tin Mừng và sự chiêm niệm hành động, vốn là phần của Vinh Sơn Phaolô và Louise de Marillac và rất nhiều người khác, có thể cung cấp cho chúng ta một phản ứng tích cực với sự thần tượng chính yếu của thời đại chúng ta, sự thần tượng của tiền bạc.

 

(còn tiếp)

PMT chuyển ngữ

 

Ghi chú

[1] Giáo hội có khía cạnh thể chế và hữu hình, đồng thời có một khía cạnh đoàn sủng và vô hình (Hồng y Suenens).

 

[2]Thông huấn cũng nói rõ rằng: cho dù các kiểu sống khác nhau có những đường nét riêng đi nữa, nhưng các đoàn sủng sáng lập vẫn luôn có ba chiều hướng vừa nói, bởi lẽ đoàn sủng nào cũng “nổi bật ước muốn sâu xa của tâm hồn là được nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô, dầu làm chứng về một nét nào đó thuộc mầu nhiệm của Người”, nét độc đáo đó được cụ thể hoá và triển khai trong truyền thống trung thực nhất của tu hội, sao cho phù hợp với các Quy luật, Hiến chương và Quy chế (Vita Consecrata, số 36).

 

 [3] Robert Maloney cung cấp cho chúng ta định nghĩa này dưới tựa đề "Espiritu Propio" trong Diccionario de Espiritualidad Vicenciana, CEME, Salamanca, 1995, tr. 204-213.

 

[4] Đối với Tu Hội Truyền Giáo, những đức tính này là năm nhân đức: đơn sơ, khiêm nhường, hiền lành, hãm mình, và nhiệt thành đối với các linh hồn (Hiến pháp số 7).

 

[5] Dịch: ở đây trong bản văn Tây Ban Nha có một tham chiếu đến Gl 2:22 nhưng không có câu như vậy và vì vậy tôi không biết làm sao để trích dẫn đúng. Lời tuyên bố sau đây cũng là một phần của tài liệu tham khảo này: tâm linh không phải là chủ nghĩa duy linh hay là bay bay hoặc là phủ nhận chiều kích lịch sử của con người. Tâm linh nghĩa là chúng ta sống và hành động dưới ánh sáng và dưới ảnh hưởng của tinh thần của Chúa Giêsu Ki tô.

 

[6] Cụ thể hơn: Chúng ta dần dần rút lui khỏi những công việc tông đồ mà sau khi suy tư, thấy không còn thích hợp với ơn gọi của Tu Hội vào thời điểm hiện tại (Điều 1, Hiến pháp của Tu Hội Truyền Giáo).

 

[7] Một phần khác điều này được chỉ ra:

 

[8] Các vị ngôn sứ cổ xưa hơn là những người bảo vệ tuyệt vời cho mối quan hệ giữa đạo đức và đức tin. Sức mạnh thuyết phục của lời ngôn sứ của họ bắt nguồn từ sự kết hợp giữa công bố / cuộc sống. Trong Isaiah đệ nhất (chương 1-39), hai chủ đề quan trọng được nhấn mạnh: vấn đề xã hội và vấn đề chính trị. Sự thoải mái, sang trọng và tự hào, sự tham lam và bất công vô độ... những điều này có thể không là thành phần trong đời sống tinh thần đích thực (mức độ nào mà những thực tế đó phải bị lên án và soi sáng ngày hôm nay?). Isaiah đã tố cáo thực tế rằng là mọi người tin rằng họ có thể điều khiển lịch sử khi trong thực tế lịch sử đã nằm trong tay Thiên Chúa và người ta cần phải được hoán cải theo đường lối của Thiên Chúa. Mi-ca lên án các hành vi phụng vụ không có đạo đức (6: 1-8). Jeremia, sau khi tố cáo những sai sót khác nhau khi tình hình dường như không thể đảo ngược được, (nó dễ dàng làm bén lửa từ cây ngã), nói những lời hy vọng và tuyên bố sự hồi sinh mới.

 

 [9] Một ví dụ khác: lời ngôn sứ được thấy trong tương quan của chúng ta với người khác. Chỉ nói về các chủ đề tâm linh có thể trở nên “mệt mỏi"” và gây ra “sự bất hòa thánh thiện”. Nhưng, như thường xảy ra ở nhà chúng ta, chỉ nói về các chủ đề con người có thể trở nên quá phổ biến. Do đó, vị trí này hay vị trí kia đều không hấp dẫn và không truyền đạt được nhãn quan ngôn sứ.

 

[10] Trong tông huấn Vita Consecrata, Đức Gioan Phaolô II đã cảnh báo về một số những cám dỗ đó, chẳng hạn như nhu cầu chính đáng tìm hiểu xã hội đương thời để ứng phó với những thách đố của thời đại có thể đi tới chỗ chiều theo thời trang nhất thời, giảm bớt lòng nhiệt thành thiêng liêng hoặc sờn lòng nản chí. Vì được huấn luyện thiêng liêng kỹ càng hơn, nên những người tận hiến có thể có cảm giác mình khá hơn các tín hữu khác, cũng thế, nhu cầu cấp bách phải đạt tới trình độ chuyên môn có thể trở thành một ưu tư quá độ về hiệu năng, như thể công tác tông đồ chỉ tuỳ thuộc vào những phương tiện con người chứ không tuỳ thuộc vào Thiên Chúa. Ước muốn gần gũi những con người thời đại chúng ta, nam và nữ, có tín ngưỡng hoặc vô tín ngưỡng, người nghèo và người giàu, là điều đáng khen, nhưng có thể dẫn đến một lối sống tục hoá, hoặc cổ võ những giá trị nhân bản hoàn toàn theo chiều ngang. Việc chia sẻ những khát vọng hợp pháp của dân tộc mình, hay của nền văn hoá mình có thể đưa đến chỗ chủ trương một số hình thức chủ nghĩa ái quốc cực đoan hoặc chấp nhận những phong tục lẽ ra phải được thanh lọc và hoàn chỉnh dưới sánh sáng của Tin Mừng. (Vita Consecrata, số 38).

 

 [11] Đây sẽ là một cách thúc đẩy sự bổ trợ và tự thăng tiến ... sự bổ trợ giữa các ngành khác nhau của Gia đình Vinh Sơn và giữa những người cư trú ở Tây Ban Nha và những người sống ở các nước khác và đang được phục vụ bởi các nhà truyền giáo. Tự thăng tiến sẽ được khuyến khích bằng cách mở các kênh hiệu quả để bán các sản phẩm của họ (hàng sản xuất và các sản phẩm thực phẩm).

 

[12] Điều này nhắc nhở chúng ta về mối phúc đầu tiên và lời kêu gọi của chúng ta để bắt chước Đức Kitô khó nghèo.

BÀI VIẾT CÙNG CHỦ ĐỀ
TIN / BÀI MỚI